Phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả lại một cách cần thiết hành sự công đang xảy ra hoặc đe dọa sẽ xảy ra ngay tức khắc nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, lợi ích chính đáng của mình hay người khác. Phòng vệ chính đáng là một tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Vì vậy, hành vi gây thiệt hại do phòng vệ chính đáng được coi là hợp pháp và không bị coi là tội phạm. Trong luật hình sự Việt Nam, vấn đề này được quy định thành một chế định riêng kể từ khi có Bộ luật hình sự đầu tiên (Bộ luật hình sự năm 1985). Trước đó, thực tiễn xét xử cũng đã thừa nhận phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm và cũng có một số văn bản quy định về các trường hợp cụ thể của phòng vệ chính đáng như Pháp lệnh quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1962 (quy định những trường hợp cảnh sát nhân dân được sử dụng vũ khí). Chế định phòng vệ chính đáng một mặt là cơ SỞ pháp lí khuyến khích công dân chủ động tham gia Š đấu tranh chống các hành vi vi phạm cũng như ` hành vi phạm tội, mặt khác cũng định hướng cho công dân thực hiện quyền của mình trong khuôn khổ pháp luật cho phép, tránh tuỳ tiện, lạm dụng. Theo Bộ luật hình sự, phòng vệ chính đáng đòi hỏi các dấu hiệu sau:

1) Phải có cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ;

2) Phải thực hiện đúng nội dung của quyền phòng vệ:

3) Phải thực hiện quyền phòng vệ trong phạm vi cho phép.

Cơ sở làm phát sinh quyển phòng vệ: quyền phòng vệ chỉ phát sinh khi có sự tấn công của con người, gây nguy hiểm đáng kể, trái pháp luật đang hoặc sẽ xảy ra ngay tức khắc. Trường hợp chưa có sự tấn công và cũng chưa có sự đe dọa sự tấn công sẽ xảy ra ngay tức khắc mà đã phòng vệ bị coi là phòng vệ quá sớm. Người có hành vi phòng vệ quá sớm phải chịu trách nhiệm hình sự khi đủ các điều kiên khác. Trái lại, trường hợp phòng vệ khi sự tấn công đã thực sự chấm dứt bị coi là phòng vệ quá muộn. Người có hành vi phòng vệ quá muộn phải chịu trách nhiệm hình sự khi đủ các điều kiện khác.

Nội dung của quyền phòng vệ: khi có quyền phòng vệ, chủ thể chỉ được phép chống trả gây thiệt hại cho chính người tấn công.

Phạm vi của quyền phòng vệ: người có quyền phòng vệ chỉ được phép chống trả ở mức cần thiết để ngăn chặn sự tấn công. Để đánh giá sự chống trả là cần thiết, phù hợp với hành vi tấn công cần dựa vào những căn cứ sau:

1) Tính chất quan trọng của quan hệ xã hội bị đe dọa xâm hại;

2) Mức độ thiệt hại bị đe dọa gây ra;

3) Tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công;

>> Xem thêm:  Mua đất nằm ở hai thửa khác nhau của cùng một chủ ? Xử lý sai lệch kích thước khi mua bán đất ?

4) Khả năng chống trả của người phòng vệ...

Trường hợp hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công thì bị coi là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và người có hành vi vượt quá này phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, mức độ trách nhiệm được giảm nhẹ.

>> Xem thêm:  Mua đất bằng giấy tay có được làm sổ hồng không ? Tư vấn thủ tục khi mua đất không phải thổ cư ?