1. Phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết giống nhau và khác nhau như thế nào ?

Phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết là những trường hợp không phải tội phạm. Phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết có sự giống nhau nhất định, tuy nhiên đây là 2 quy định có nội dung, điều kiện, tính chất hoàn toàn khác nhau.

Thứ nhất: Nguồn gây ra nguy hiểm cần phải loại trừ ở phòng vệ chính đáng là hành vi nguy hiểm của con người xâm phạm đến lợi ích chính đáng của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác. Còn nguồn gây ra nguy hiểm đối với lợi ích nói trên trong tình thế cấp thiết rất đa dạng, là sự nguy hiểm do thiên tai, do súc vật, do sự cố kỹ thuật gây ra. Cá biệt sự nguy hiểm có thể do hành vi của con người gây ra.

Phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết giống nhau và khác nhau như thế nào ?

Luật sư tư vấn Luật Hình sự trực tuyến qua điện thoại, gọi: 1900.6162

Thứ hai: Phương pháp loại trừ nguy hiểm ở phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết hoàn toàn khác nhau. Người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng loại trừ nguồn nguy hiểm bằng cách chống trả lại người đang có hành vi xâm phạm lợi ích hợp pháp một cách cần thiết. Người có hành vi trong tình thế cấp thiết khắc phục, loại trừ sự nguy hiểm bằng cách gây một thiệt hại nhất định cho một lợi ích để bảo vệ lợi ích lớn hơn đang bị đe dọa.

Thứ ba: Mức độ thiệt hại mà người phòng vệ chính đáng hoặc người có hành vi trong tình thế cấp thiết gây ra được Điều 15, Điều 16 Bộ luật Hình sự quy định khác nhau.

Người phòng vệ chính đáng được gây thiệt hại cho chính người có hành vi xâm phạm đến lợi ích hợp pháp ở mức độ cần thiết. Đây là mức độ đủ khả năng loại trừ hành vi xâm phạm của người tấn công. Mức độ cần thiết có thể là ngang bằng hoặc mức độ thiệt hại lớn hơn so với thiệt hại do hành vi tấn công gây ra miễn là cần thiết để loại trừ hành vi tấn công chứ không quá mức, quá đáng. Để đánh giá mức độ cần thiết cần căn cứ tương quan lực lượng giữa bên tấn công và bên phòng chính đáng, căn cứ vào công cụ phương tiện được dùng, vào mỗi quyết tâm của bên tấn công.

Mức độ thiệt hại do người thực hiện hành vi trong tình thế cấp thiết gây ra bắt buộc phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa, Điều 16 Bộ luật Hình sự buộc người khắc phục tình trạng nguy hiểm trong tình thế cấp thiết phải lựa chọn cách khắc phục sự nguy hiểm, cân nhắc đánh giá thiệt hại do chính mình gây ra.

Thứ tư: Phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết có đối tượng bị hành vi khắc phục sự nguy hiểm gây ra thiệt hại hoàn toàn khác nhau. Người phòng vệ chính đáng gây ra thiệt hại cần thiết cho chính người đang có hành vi xâm phạm lợi ích hợp pháp chứ không gây thiệt hại cho người khác. Có như vậy mới loại trừ được nguồn gốc nguy hiểm, bảo vệ được lợi ích hợp pháp, chống tình trạng lợi dụng danh nghĩa phòng vệ chính đáng để vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho xã hội. Quy định này còn bắt buộc người phòng vệ chính đáng hết sức thận trọng khi phòng vệ chính đáng có sử dụng vũ khí trong khi thi hành công vụ.

Trong tình thế cấp thiết đối tượng bị hành vi khắc phục tình trạng nguy hiểm thiệt hại là một lợi ích. Vì bảo vệ lợi ích lớn hơn đang có nguy cơ bị thiệt hại mà người khắc phục tình trạng nguy hiểm phải gây ra thiệt hại cho một lợi ích nhỏ hơn. Tuy nhiên pháp luật không cho phép gây thiệt hại tính mạng, sức khỏe người khác để khắc phục tình trạng nguy hiểm trong tình thế cấp thiết.

Trong công tác đấu tranh chống tội phạm, phân biệt sự khác nhau giữa vệ chính đáng và tình thế cấp thiết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước hết có tác dụng làm rõ để loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phòng vệ chính đáng hoặc tình thế cấp thiết, xử lý đúng pháp luật với người có hành vi vuợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc tình thế cấp thiết.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về cá nhân hay công ty ?

2. Tư vấn về trường hợp phòng vệ chính đáng ?

Luật sư cho tôi hỏi cách giải quyết của vụ việc sau: Ngày 23 tháng 11, A đi ăn giỗ ở nhà họ hàng. Lúc về có 1 thanh niên là B đứng đợi ở cửa rồi xích mích với Ạ và có xảy ra xô xát . Sau đó, B gọi 7 người nữa mang hung khí tới. A bỏ chạy về nhà thì B cùng đồng bọn đuổi theo vào trong nhà. Thấy vậy A chạy xuống bếp cầm dao lên. Bị B đánh, A dùng dao chống trả. A chém B 1 nhát vào vai, Bbị đứt tĩnh mạch .
Cho tôi hỏi trường hợp này thì giải quyết như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 22 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Điều 22. Phòng vệ chính đáng

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc li ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy him cho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.

Trong tình huống này, B là người cố ý đuổi theo, dùng hung khí tấn công A. Hành vi chống cự lại của A là nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình không bị coi là tội phạm khi sự chống trả nằm trong giới hạn của phòng vệ chính đáng. Hành vi của A sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi vượt quá giới hạn của phóng vệ chính đáng. Vấn đề đặt ra ở đây là như thế nào thì được coi là vượt quá giới hạn cho phép? Điều này sẽ căn cứ vào phương tiện, công cụ và hậu quả mà hai bên gây ra cũng như mức độ của hành vi tấn công và khả năng của người phòng vệ.

Nếu vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng mà gây thương tích thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng quy định tại Điều 134 Bộ luật này.

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy him hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy him hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trlên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần tr lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người tr lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Tuy nhiên, vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự với người vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng vẫn có thể được giảm nhẹ khi căn cứ vào lỗi của nạn nhân (người có hành vi trộm cố ý gây thương tích với A); mục đích của hành vi chống trả chỉ nhằm phòng vệ; người vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng không còn thời gian để lựa chọn cách giải quyết khác.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Đã có đơn rút yêu cầu khởi tố thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa không?

3. Mức án phải chịu khi gây tại nạn với tỷ lệ thương tật 63% ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Cho tôi hỏi anh trai tôi khi lùi xe ôtô từ trên vỉa hè xuống (lùi sai làn đường và để sai vị trí xe) và đã va quẹt vào 1 người đi xe máy (người đi xe máy đi đúng đường).
Anh trai tôi đã cán qua tay phải của nạn nhân làm họ phải cắt cánh tay phải và bị mất 63% thương tật. Vậy cho tôi hỏi: Nếu ra tòa thì anh tôi sẽ chịu mức án như thế nào ?
Xin cám ơn.
Người gửi: Phuong

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Khoản 1 Điều 260 BLHS 2015 quy định:

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%:

g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trong trường hợp của bạn, việc bạn để xe sai vị trí và lùi xe sai làn đường là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ. Hành vi này của bạn dẫn tới gây thiệt hại đến sức khóe của người khác với tỷ lệ thương tật 63%. Đủ dấu hiệu dấu hiệu cấu thành tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo khoản 1 Điều 260 BLHS 2015, mức xử phạt là phạt tiền từ từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Ném rác vào vườn nhà người khác có bị đi tù không?

4. Làm thế nào để khởi kiện tội cố ý gây thương tích ?

Kính gửi các Quý Luật sư của Công ty Luật Minh Khuê. Tôi có một vấn đề mong được các Luật sư giải đáp. Ngày 8 - 8 trên đường đi làm về, tôi bị đồng nghiệp tên X chặn đường và đâm 7 nhát liên tục vào người nhưng tôi chỉ bị thương tích nhẹ. Tôi có thể kiện X vì tội gì và phải trình báo thế nào để được giải quyết ?
Tôi rất mong nhận được sự phản hồi của các Quý Luật sư Công ty Luật Minh Khuê. Tôi xin chân thành cảm ơn.
- Lê Văn Thỏa

Luật sư trả lời:

Theo quy định của pháp luật Hình sự, bạn có thể kiện X tội " Cố ý gây thương tích cho người khác" theo điều 134, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổ sung 2017.

"Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
i) Có tính chất côn đồ;
k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này"

Trong câu hỏi bạn đặt ra chỉ ghi là bạn bị đâm liên tiếp 7 nhát gây nên thương tích nhẹ, không có thông tin về tỉ lệ thương tích cụ thể nên chúng tôi không thể đưa ra một khung hình phạt cụ thể mà đồng nghiệp bạn có thể chịu. Vì vậy, chúng tôi trích dẫn quy định pháp luật Hình sự về hình phạt đối với người cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở mức thương tích từ 60% trở xuống. Dựa vào giám định thương tích cụ thể của bạn sẽ đưa ra được mức hình phạt cho X. Trường hợp X gây thương tích cho bạn với tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 11% - 30% hoặc dưới 11% nhưng trong trường hợp này X dùng dao được coi là hung khí nguy hiểm thì mức phạt dành cho X sẽ là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Trường hợp tỷ lệ tổn thương cơ thể của bạn từ 31% đến 60% thì X có thể bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm. Ngoài ra mức phạt có thể tăng nặng hoặc giảm nhẹ nếu có các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ theo quy định tại điều 51, 52 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017. Ví dụ, một số tình tiết có thể giảm nhẹ mức phạt cho X theo quy định tại điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 như là:

"b, Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả

i, Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng

r, Người phạm tội tự thú...."

Căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, bạn có thể thực hiện khởi kiện X bằng cách: Trực tiếp đến cơ quan công an nơi xảy ra hành vi vi phạm của X tố cáo trực tiếp hành vi của X hoặc thông qua văn bản gửi đơn tố giác đến cơ quan công an. Cơ quan công an sẽ thực hiện tiếp nhận tin tố giác tội phạm của bạn và thực hiện điều tra theo quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự.

Trên đây là tư vấn của đội ngũ Luật sư Công ty Luật Minh Khuê. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục yêu cầu người bị hại hoàn trả tiền bồi thường ?

5. Thời hạn điều tra vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích?

Kính gửi công ty Luật Minh Khuê. Ba tôi là A, bị anh B đánh đập vô cớ dẫn đến gẫy tay và chấn thương vùng đầu. Ngày 25/12/2015 gia đình tôi có trình báo cơ quan cảnh sát điều tra. Ngày 6/1/2016 gia đình tôi làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi trên, vật chứng nhân chứng đã rõ ràng.
Ngày 29/02/2016 điều tra viên gọi A và B lên và thông báo kết quả giám định thương tật là 10%. A yêu cầu cho xem giấy giám định thương tật, nhưng không được điều tra viên này cho xem và không nói rõ lý do. Tới nay, vụ án vẫn chưa được quyết định truy tố hay không từ phía cơ quan cảnh sát điều tra. Xin hỏi quý công ty, trong trường hợp trên, cơ quan cảnh sát đã vi phạm thời hạn điều tra theo luật tố tụng hình sự chưa ? Bị hại là A có quyền yêu cầu phía công an cung cấp kết quả giám định bằng biên bản không ? Nếu được thì phía bị hại cần làm thủ tục gì để yêu cầu ?
Trân trọng cảm ơn.

Trả lời

Thời hạn điều tra được quy định tại Điều 172 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Điều 172. Thời hạn điều tra

1. Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

2. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.

Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

3. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

4. Trường hợp thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, nhập vụ án thì tổng thời hạn điều tra không vượt quá thời hạn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.

5. Thẩm quyền gia hạn điều tra của Viện kiểm sát:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn điều tra lần thứ ba.

6. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý điều tra thì việc gia hạn điều tr

-> Thì đến hiện nay thời hạn điều tra được quy định như trên, nếu quá thời hạn không có gia hạn thì bên cảnh sát điều tra vi phạm thời hạn điều tra.

Căn cứ vào Điều 62 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

Điều 62. Bị hại

1. Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.

2. Bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền:

a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;

b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

c) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

d) Đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;

đ) Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;

e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;

g) Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;

h) Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;

i) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;

k) Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này;

l) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;

m) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;

n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;

o) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.

4. Bị hại có nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải;

b) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

5. Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị hại quy định tại Điều này.

Cơ quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều này.

-> Người bị hại có quyền được thông báo về kết quả điều tra. Và cơ quan có nghĩa vụ cung cấp kết quả điều tra theo quy đinh tại Điều 175 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Điều 175. Giải quyết yêu cầu, đề nghị của người tham gia tố tụng

1. Khi người tham gia tố tụng có yêu cầu, đề nghị về những vấn đề liên quan đến vụ án thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát trong phạm vi trách nhiệm của mình giải quyết yêu cầu, đề nghị đó và báo cho họ biết kết quả. Trường hợp không chấp nhận yêu cầu, đề nghị thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc Viện kiểm sát phải trả lời và nêu rõ lý do.

2. Trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc Viện kiểm sát thì người tham gia tố tụng có quyền khiếu nại. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII của Bộ luật này.

Lúc này cơ quan điều tra phải cung cấp thông tin cho bạn, nếu cơ quan công an không cũng cấp kết quả cho bạn thì họ phải trả lời và nêu rõ lý do.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tạt axit người khác bị xử lý thế nào?