1. Phóng viên, cộng tác viên báo chí vòi tiền người dân bị tội gì?
Gần đây, bắt quả tang 03 phóng viên, công tác viên báo chí "vòi tiền" người dân. Theo như sự việc thì phóng viên và công tác viên đã có hành vi vi phạm pháp luật.
Theo quy định tại Điều 170 Bộ luật hình sự 2015 quy định về Tội cưỡng đoạt tài sản: Người nào có hành vi đe dọa hoặc dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. Cưỡng đoạt tài sản là hành vi xâm phạm quyền sở hữu của người khác bị pháp luật nghiêm cấm. Người thực hiện hành vi này thông qua việc đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần bằng các thủ đoạn khác để buộc chủ tài sản (hoặc người có trách nhiệm với tài sản) phải giao tài sản. Cụ thể như:
- Hành vi đe dọa dùng vũ lực là hành vi đe dọa dùng vũ lực để gây thiệt hại cho nạn nhân với mục đích làm cho nạn nhân cảm thấy sợ hãi và phải giao tài sản. Việc đe dọa dùng vũ lực có thể được thực hiện thông qua hình thức gián tiếp hoặc trực tiếp. Đe dọa trực tiếp là việc đe dọa bằng lời nói, cử chỉ, hành động... trực tiếp và công khai với chủ tài sản (hoặc người có trách nhiệm với tài sản). Còn đe dọa gián tiếp là hình thức đe dọa thông qua tin nhắn, điện thoại, thư từ,... mà người cưỡng đoạt tài sản sẽ không gặp mặt trực tiếp nạn nhân.
- Cưỡng đoạt tài sản bằng việc uy hiếp tinh thần người khác là hành vi người cưỡng đoạt tài sản sẽ dùng các thủ đoạn gây áp lực về tinh thàn của đối phương để họ hoang mang, lo sợ và giao tài sản theo yêu cầu. Ví dụ như việc dọa dẫm đập phá đồ, làm khó trong công việc hay tố cáo tội của người bị hại,...
Chỉ khi mục đích của các hành vi đe dọa là chiếm đoạt tài sản thì mới được xác định là cưỡng đoạt tài sản. Ngược lại nếu như chỉ đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần mà không chiếm đoạt tài sản thì không được xem là cưỡng đoạt tài sản mà đó có thể là hành vi khủng bố hay đe dọa...
=> Như vậy, từ những lập luận trên, ta có thể thấy khi phóng viên, công tác viên viết bài mà vòi tiền người dân tức là đang có hành động xâm phạm đến tài sản của người dân nhằm mục đích vụ lợi. Vì mục đích cá nhân mà đe dọa, dọa nạt người dân hòng bắt người dân phải đưa tiền cho họ. Do vậy, khi phóng viên, công tác viên vòi tiên người dân là có tội cưỡng đoạt tài sản.
- Tội cưỡng đoạt tài sản hoàn thành khi nào?
Thời điểm tội cưỡng đoạt tài sản hoàn thành được tính từ lúc người phạm tội thực hiện xong hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn uy hiếp tinh thần người khác kèm theo đòi hỏi về giao tài sản để với mục đích chiếm đoạt. Nếu chỉ đơn giản đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn uy hiếp tinh thần mà không gắn liền với yêu cầu về tài sản để chiếm đoạt thì không cấu thành tội phạm này.
Trường hợp gây ra hậu quả thì tùy thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt khác nhau. Bên cạnh đó thì người phạm tội dù chưa thực hiện hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc chưa dùng thủ đoạn uy hiếp tinh thần người quản ý tài sản nhưng đã có ý thức chiếm đoạt và sự chuẩn bị từ trước thì vẫn bị xem xét xử lý theo trường hợp chuẩn bị phạm tội.
2. Mức xử phạt đối với hành vi trên
Tội cưỡng đoạt tài sản được quy định trong Bộ luật hình sự cụ thể như sau:
- Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn uy hiếp tinh thần người khác nahwmf chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị phạt từ 01 năm đến 05 năm tù;
- Nếu phạm trong các trường hợp dưới đây thì sẽ bị phạt từ 03 năm đến 10 năm tù:
+ Phạm tội có tổ chức;
+ Có tính chất chuyên nghiệp;
+ Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già ốm yeuse hoặc người không có khả năng tự vệ;
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 đến dưới 200 triệu đồng;
+ Gây ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
+ Tái phạm nguy hiểm.
- Trong trường hợp chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị phạt từ 07 năm đến 15 năm tù.
- Trường hợp bị phạt nặng nhất từ 12 năm tù đến 20 năm tù khi chiếm đoạt tài snar trị giá 500 triệu đồng trở lên hoặc lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Ngoài ra còn hình phạt bổ sung được áp dụng với Tội cưỡng đoạt tài sản là phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Trong những trường hợp người chiếm đoạt tài sản từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với Tội cưỡng đoạt tài sản áp dụng khung hình phạt từ 03 năm đến 10 năm tù trở lên. Người dưới 16 tuổi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị phạt hành chính về hành vi cưỡng đoạt tài sản, mức phạt hành chính cho hành vi dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, tài sản là phạt từ 02 triệu đồng đến 05 triệu đồng.
Như vậy, phóng viên, công tác viên viết báo vòi tiền người dân là mắc tội cưỡng đoạt tài sản thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu như phóng viên, công tác viên viết bài vòi tiền người dân bằng cách dùng vũ lực hay đe dọa uy hiếp tinh thần người dân thì sẽ có thể bị phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Trong trường hợp mà phóng viên cùng công tác viên viết báo hợp tác với nhau có tổ chức để vòi tiền người dân thì sẽ bị phạt từ 03 năm đến 05 năm tù. nói tóm lại, phóng viên hay công tác viên viết bài vòi tiền người dân có thể bị phạt lên đến 20 năm tù tùy thuộc vào hành vi, mức độ nguy hiểm, trị giá của tài sản chiếm được.
3. Phạm tội cưỡng đoạt tài sản có được hưởng án treo
Khi phạm tội cưỡng đoạt tài sản muốn hưởng án treo thì cần đáp dứng các quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP cụ thể như sau:
- Bị xử phạt tù không quá 03 năm;
- Có nhân thân tốt. Được coi là có nhân thân tốt nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú và nơi làm việc.
- Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trường hợp có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát. Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ xác định cụ thể theo quy định của Luật cư trú năm 2020 mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo. Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
- Ngoài ra, xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến an ninh, an toàn xã hội.
Đối với mức phạt tội "cưỡng đoạt tài sản" người phạm tội chỉ được hưởng án treo khi mức hình phạt không quá 03 năm và đáp ứng các điều kiện hưởng án treo khác theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bài viết có nội dung chưa rõ, mời quý bạn đọc liên hệ tổng đài tư vấn trực tuyến của Luật Minh Khuê theo hotline: 1900 6162 để được hỗ trợ và giải đáp.