1. Ép người khác ký giấy vay nợ bị tội gì ?

Thưa Luật sư. Tôi có vụ việc như thế này, xin được tư vấn: Tôi có vay tiền anh A với số tiền 100 triệu và cam kết sau 1 năm sẽ trả nhưng do tôi làm ăn thua lỗ nên không trả kịp. Tôi đã nhiều lân khất nợ anh A và được anh A đồng ý.
Nhưng đến hôm nay tôi được anh A thông báo số tiền tôi nợ anh A tính cả gốc lẫn lãi là 250 triệu đồng, dù trước đây thỏa thuận không có lãi. Tôi không đồng ý với số tiền trên, anh A nhiều lần gọi điện và nhắn tin cho tôi bắt tôi phải nhận, nhưng tôi không chịu. Đến ngày 19/10/2018 anh A cho người đến nhà tôi đánh đập tôi, dọa sẽ giết tôi nếu tôi không đồng ý ký vào giấy vay nợ, do quá sợ hãi nên tôi đã ký, sự việc được camera nhà tôi ghi lại.
Vậy hành vi này của anh A có vi phạm pháp Luật không?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 170, Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:

Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

e) Tái phạm nguy hiểm.

Như vậy hành vi của anh A ép ký giấy vay nợ nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 150 triệu đồng, theo đó anh A có thể bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

Ngoài ra hành vi đánh người nếu gây thương tích hoặc dùng những hung khí nguy hiểm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, căn cứ theo điều 134, Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;
...

Vậy hành vi đánh đập, cưỡng ép người khác ký vào giấy vay nợ một số tiền khống. Mục đích bắt con nợ phải trả số tiền đã ký trên giấy đó là hành vi vi phạm pháp Luật, có dấu hiệu về hành vi cưỡng đoạt tài sản.

Ngoài ra hành vi đánh đập người khác cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích. Đối với những đối tượng thực hiện các hành vi nêu trên bạn hoàn toàn có quyền trình báo hoặc tố cáo ra cơ quan công an.

>> Xem thêm:  Quy định mới về lãi suất trong Bộ luật dân sự hiện hành

2. Tư vấn thủ tục đòi nợ khi người vay bỏ trốn ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Tôi có cho một người bạn vay 200 triệu mà giờ đã bỏ trốn nhưng truớc kia cũng vì tình thân không có làm giấy tờ vay nhưng mà người đó có nhắn tin lại khất nợ vậy tôi có thể làm gì để đòi lại được số nợ đó không nếu có thì phải làm gì ?
Xin luật sư cho tôi biết. Xin cám ơn.
Người gửi: P.K

Ép người khác ký giấy vay nợ có thể bị truy tố trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi : 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 143 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015:

“Điều 143. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:

1. Tố giác của công dân;

...

Căn cứ khoản 4 Điều 110 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003:

Điều 163. Thẩm quyền điều tra

1. Cơ quan điều tra của Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Như vậy căn cứ vào quy định trên thì bạn nộp đơn tố giác tại cơ quan điều tra cấp huyện nơi xảy ra hành vi vay tiền trên.

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản

3. Trách nhiệm khi phá đám cưới do mâu thuẫn nợ nần ?

Chào luật sư, xin hỏi: Trước đây mẹ cháu từng vướng tiền hụi với 2 người dì ruột. Họ không đồng ý thưa ra tòa để được hoàn trả 1 cách hợp lí mà đòi trả hoài 1 khoang tiền lời. Mẹ cháu đã trả 1 thời gian nhưng khoảng tiền từ 4triệu đồng hiện tại được tính lời lên tới gần 12triêu.
Nên mẹ cháu hứa một khoảng thời gian sau mẹ cháu sẽ trả, nhưng người dì thứ nhất không đồng ý và có lần đánh cháu xô xuống sông và nói là đánh trừ nợ lúc đó cháu lớp4 hành động và thưing tích đó có 1 người mợ và hàng xóm làm chứng. Hàng xóm khuyên mẹ cháu thưa ra tòa tội đánh đập hành hạ trẻ em nhưng mẹ cháu không làm. Đến gần 3 năm sau con trai người dì thứ 2 mượn xe máy mẹ cháu trị giá 13triệu đồng đi không trở lại, công an lên nhà kêu mẹ cháu kí giấy gì đó để đủ khoảng cho công an ra luật truy nã vì ang ấy còn lấy xe của nhiều người khác nữa. Nhưng mẹ cháu cẫn không làm. Tới hơn 3 năm anh ấy về và nói là mẹ cháu khỏi trả tiền cho 2 dì để anh ấy trả có sự chứng kiến của mọi người. Đến nay cháu 23 tuổi thì 2 người dì lại nói là khi nào đến đám cưới cháu sẽ lại nhà phá nói mẹ cháu ăn giật, đi đâu cũng nói vậy.
Hiện tại cháu không biết làm sau và lo lắng vì gần 3 thang nữa là tới đám hỏi của cháu. Cháu mong luật sư sẽ giúp cháu giải đáp thắc mắc của mình ?

Luật sư trả lời:

Trước hết luật sư nhận thấy rằng sự việc của gia đình bạn với những người trong họ hàng đã diễn ra rất lâu, kéo dài từ khi bạn còn bé đến giờ đã đến tuổi lấy chồng. Thực sự chuyện họ hàng không ai muốn mất đoàn kết và Luật sư nhận thấy mẹ bạn rất ôn hòa qua lời kể của bạn. Trái lại phía gia đình Dì thì luôn làm căng thẳng sự việc nên để kết luận lỗi do ai và ai sai trong câu chuyện này không phải là dễ dàng.

Những sự việc diễn ra quá lâu rồi nên Luật sư cho rằng mọi sự đã qua và cũng không có thiện hại gì đáng kể về sức khỏe nên không cần truy cứu lại vấn đề xô xát đánh nhau từ hồi bạn học lớp 4 nữa. Bây giờ bạn nên nói chuyện với mẹ để có phương án trả nợ cũng như lấy lại số tiền khoảng 13 triệu. Đây là vấn đề dân sự nên cần giải quyết theo quy định pháp luật dân sự, việc Dì của bạn hành xử như vậy rất có thể vi phạm pháp luật hoặc ít nhất là vi phạm trật tự xã hội và có thể bị xử phạt hành chính.

Sự việc Dì có hành vi thông tin sai sự thật làm ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm của mẹ bạn thì tùy vào mức độ vi phạm mà có hướng xử lý theo quy định pháp luật. Căn cứ theo Điều 156 Bộ luật hình sự năm 2015 Người nào bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác là trái pháp luật. Mức độ vi phạm chưa đủ để cấu thành tội vu khống thì căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì người vi phạm có thể bị xử phạt từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

Trong trường hợp xấu nhất trong đám cưới của bạn mà có vấn đề gì về an ninh trật tự thì bạn nên thông báo với chính quyền địa phương để được giải quyết. Mọi việc trong đời sống xã hội cần được giải quyết theo quy định pháp luật nên bạn không lo sợ về những lời đe dọa, đồng thời phải biết tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo đúng quy định pháp luật.

>> Xem thêm:  Ép buộc người khác ký giấy nợ bị xử lý như thế nào ? Thuê đòi nợ có vi phạm không ?

4. Nợ tiền hàng trong hợp đồng mua bán có bị phạt tù ?

Thưa luật sư, mới đây em có thực hiện 1 giao dịch hàng hoá giá trị 25 triệu. em đã chuyển tiền nhưng bên bán không chuyển hàng và đến thời điểm hiện tại đã cắt đứt hoàn toàn liên lạc. vậy luật sư cho em hỏi với giá trị tài sản như vậy thì sẽ bị truy tố ra sao và trong thời gian bao lâu có thế khởi tố ạ?
em xin cảm ơn luật sư!!

>> Luật sư tư vấn luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Với trường hợp của bạn, bạn có thực hiện giao kết Hợp đồng mua bán hàng hóa với bên bán và đã chuyển giao tiền hàng cho bên bán nhưng đến thời điểm hiện tại không giao hàng cho bên bạn thì đã có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản của bạn. Căn cứ quy định pháp luật hình sự quy định Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vây, giá trị tài sản là 25tr đủ cấu thành hình sự, bạn có thể làm đơn tố cáo gửi lên cơ quan công an cấp xã phường nơi người đó đăng ký thường trú/tạm trú làm việc sau 7 ngày không giải quyết thì bạn gửi đơn lên cấp quận/huyện yêu cầu giải quyết.

Kèm theo nội dung đơn tố cáo bạn cung cấp thêm các căn cứ chứng minh như: hợp đồng mua bán giao kết giữa hai bên hay chứng từ chuyển tiền.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi gnay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Cho vay tiền làm ăn có tiền nhưng không trả nên báo công an không ?

5. Không có khả năng thanh toán nợ có bị phạt tù ?

Thưa luật sư, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Vừa qua, tôi có mua hàng của khách, sau đó bán lại cho người khác. Hiện người này bị vỡ nợ nên không có khả năng trả nợ cho tôi.

Bản thân tôi vì thế cũng không có tiền để chi trả cho chủ nợ. Tôi có hẹn với chủ nợ là khi nào có điều kiện thì tôi sẽ thanh toán nợ cho họ. cũng nói thêm là tôi không có hành vi bỏ trốn hay trốn tránh chủ nợ của tôi. Bên đó đưa tôi ra công an, vậy tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này hay không?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty Luật Minh Khuê. Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!

Người gửi: Nguyễn Mạnh Hà

.Không có khả năng thanh toán nợ có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, Xét về giao dịch vay nợ giữa bạn và người vay, bạn và chủ nợ:

Theo thông tin bạn cung cấp thì chúng tôi không biết rằng khi giao dịch mua bán, vay, nợ giữa bạn và hai bên kia có giấy tờ, hóa đơn hay bất kỳ bằng chứng nào chứng minh tồn tại giao dịch hay không. Trường hợp không có giấy tờ giao dịch giữa các bên, bạn cũng như chủ nợ của bạn có thể đòi lại được tiền nếu chứng minh được sự tồn tại của giao dịch vay nợ trên thực tế qua e-mail, tin nhắn, người làm chứng cho việc vay tiền giữa các bên. Trường hợp này,việc trả nợ phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên liên quan. Việc bạn vay của chủ nợ hoàn toàn độc lập với việc bạn là chủ nợ của người khác. Vì vậy, bạn nên thỏa thuận với chủ nợ về ngày trả nợ cũng như phương thức thanh toán bằng văn bản có chữ ký của 2 bên thì việc trả nợ được thực hiện theo đúng thỏa thuận đã cam kết đã được.

Trường hợp hai bên không có cam kết hay thỏa thuận gì về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ bạn có thể thỏa thuận thời hạn thực hiện việc trả nợ theo quy định tại Điều 275 Bộ Luật Dân Sự năm 2015 như sau:

" Điều 278. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ

1. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ do các bên thoả thuận, theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.Trường hợp bên có nghĩa vụ đã tự ý thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn và bên có quyền đã chấp nhận việc thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được coi là đã hoàn thành đúng thời hạn.

3. Trường hợp không xác định được thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều này thì mỗi bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ vào bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý.

Thứ hai, về việc chịu trách nhiệm hình sự

Căn cứ theo quy định tại Điều 2 Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 về Cơ sở của trách nhiệm hình sự:

" Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự"

Hành vi của bạn chưa đủ yếu tố cấu thành của bất kỳ tội phạm nào được quy định tại Điều 8 về Khái niệm tội phạm

"1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác."

Như vậy, bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình tại thời điểm bên chủ nợ đưa bạn ra công an.

Hy vọng bạn sẽ sớm giải quyết được vấn đề của mình!

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Làm giấy vay tiền viết tay có hợp pháp không?