Nội dung phân tích

Câu hỏi: Em thấy luật sư chưa đọc kỹ nội dung của bạn Anne ạ. Bạn ấy trình diện BHTN vào ngày 16/10 và đến 10 ngày sau bạn ấy nhận được tiền trợ cấp, đến ngày 3/11 bạn ấy trình diện lần 2 nhưng trong tháng 11 bạn ấy không nhận được tiền mà qua tháng 12 mới nhận được tiền của tháng 11 ạ. Vậy là BHTN đã làm sai quy định rồi đó ạ. Vì theo diều khoản mà Luật sư nói thì chỉ trong vòng 5 ngày làm việc nhưng bạn ấy trình diện 1 tháng có tiền. Cho hỏi Luật sư là nếu muốn thắc mắc, giải quyết vấn đề trên thì liên hệ cơ quan nào ạ. Cám ơn Luật sư nhiều ạ.

Trả lời: Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của chúng tôi, chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

1. Mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp

- Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

- Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

- Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật việc làm năm 2013

2. Giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp

2.1 Trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm gì ?

- Trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm xem xét, trình Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động trong thời hạn 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định, trường hợp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp gửi theo đường bưu điện thì ngày nhận hồ sơ được tính là ngày chuyển đến ghi trên dấu bưu điện.

Người lao động chưa tìm được việc làm trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp được Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp thì trung tâm dịch vụ việc làm xác nhận về việc đã giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động vào sổ bảo hiểm xã hội và gửi lại người lao động cùng với quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp sau khi chụp sổ bảo hiểm xã hội để lưu hồ sơ.

Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động được tính từ ngày thứ 16 theo ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp được trung tâm dịch vụ việc làm gửi: 01 bản đến Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết tắt là Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh) để thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người lao động; 01 bản đến người lao động được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp thực hiện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.

Trường hợp người lao động không được hưởng trợ cấp thất nghiệp thì trung tâm dịch vụ việc làm phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

2.2 Chi trả trợ cấp thất nghiệp

-  Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp tháng đầu tiên của người lao động trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp;

- Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động từ tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ 2 trở đi trong thời hạn 05 ngày làm việc, tính từ thời điểm ngày thứ 07 của tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp đó nếu không nhận được quyết định tạm dừng hoặc chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp đối với người lao động. Trường hợp thời điểm ngày thứ 07 nêu trên là ngày nghỉ thì thời hạn chi trả trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày làm việc tiếp theo.

- Sau thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày ghi trong phiếu hẹn trả kết quả, nếu người lao động không đến nhận quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp thì được coi là không có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều này. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày người lao động không đến nhận quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định, trung tâm dịch vụ việc làm trình Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định về việc hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động.

Quyết định về việc hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp được trung tâm dịch vụ việc làm gửi: 01 bản đến Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh để không chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động; 01 bản đến người lao động. Quyết định về việc hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp thực hiện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.

- Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động vẫn được nhận hoặc ủy quyền cho người khác nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Ốm đau, thai sản có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền;

+ Bị tai nạn có xác nhận của cảnh sát giao thông hoặc cơ sở y tế có thẩm quyền;

+ Hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, sóng thần, địch họa, dịch bệnh có xác nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

- Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động trong trường hợp hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp nêu tại Khoản 3 Điều này được cộng dồn theo quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật Việc làm để tính cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo.

- Sau thời hạn 03 tháng kể từ ngày người lao động hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp và không thông báo bằng văn bản với tổ chức bảo hiểm xã hội nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp thì người lao động đó được xác định là không có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tương ứng với số tiền trợ cấp thất nghiệp mà người lao động không đến nhận được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.

Trong thời hạn 07 ngày làm việc sau thời hạn nêu trên, tổ chức bảo hiểm xã hội phải thông báo bằng văn bản với trung tâm dịch vụ việc làm nơi người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp về việc người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp. Thông báo về việc người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp thực hiện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức bảo hiểm xã hội, trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm xem xét, trình Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.

Quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được trung tâm dịch vụ việc làm gửi: 01 bản đến Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh để thực hiện bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động; 01 bản đến người lao động. Quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp thực hiện theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.

- Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Khoản 2 Điều 50 Luật Việc làm. Người lao động có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 36 tháng thì những tháng lẻ chưa giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.

Đối với trường hợp này, theo quy định tại điều 36, điều 37 Nghị định 28/2015/NĐ-CP thì nếu có thắc mắc hay muốn giải quyết đối với vấn đề này bạn có thể làm đơn khiếu nại lên chính cơ quan bảo hiểm xã hội đã thực hiện chi trả tiền trợ cấp để khiếu nại về việc chậm thực hiện chi trả tiền trợ cấp thất nghiệp cho người lao động ( 1 tháng).

3. Có thể ủy quyền cho người khác lấy sổ BHXH không ?

Tôi ở Tây Ninh, nhưng do muốn học hỏi thêm nên khi nghỉ việc tôi tạm thời ra Thanh Hóa tìm việc. Tại Thanh Hóa tôi khai báo hưởng trợ cấp thất nghiệp được 3 tháng. Tôi đã lãnh đủ 3 tháng trợ cấp. Theo giấy hẹn của cơ quan BHXH thì ngày 8/9/2016 tôi phải đến lấy lại Sổ BHXH. Nhưng do có việc đột xuất nên đến ngày 12/9/2016 tôi mới đến cơ quan BHXH thì được trả lời là phải đến ngày 6/10/2016 mới được lấy (tháng này không đúng hẹn thì phải sang tháng sau). Nhưng ở Tây Ninh tôi lại nhận được tin là đã tìm được việc cho tôi, tôi phải quay lại Tây Ninh gấp nên ngày 6/10/2016 tôi không còn ở Thanh Hóa nữa. Cho hỏi ngoài cách ủy quyền cho người khác lấy thay Sổ BHXH (vì tôi không có người quen nào tin cậy để ủy quyền lấy) thì tôi còn có cách nào để về Tây Ninh mà vẫn lấy được không? Tôi nghe nói có thể viết thư trình bày, nhờ cơ quan BHXH Thanh Hóa gửi bưu điện về Tây Ninh, không biết có được không? Nhờ luật sư tư vấn dùm! Tôi xin thành thật cảm ơn!

Đối với trường hợp này của bạn chỉ có thể trực tiếp đến hoặc ủy quyền cho người khác lấy hộ cho mình sổ BHXH chứ không thể viết thư trình bày nhờ cơ quan BHXH gửi qua bưu điện về Tây Ninh cho bạn.

4. Quy định về thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp

Luật sư cho em hỏi. E đóng bảo hiểm ở công ty đén tháng 8 là được 10 tháng thì em nghỉ việc. Giờ em muốn tự đóng nốt hai tháng bảo hiểm để tròn 12 tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được không ah. Và em phải đi đâu để đóng ah. Em làm ở quận Hai Bà Trưng Hà Nội. Em cảm ơn

Khoản 1 Điều 45 Luật viêc làm 2013 về bảo hiểm thất nghiệp thì thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để xét hưởng bảo hiểm thất nghiệp là tổng các khoảng thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp liên tục hoặc không liên tục được cộng dồn từ khi bắt đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp cho đến khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp. 

Bên cạnh đó, Điều 6 nghị định 28/2015/NĐ-CP và Điều 57 Luật việc làm 2013 thì Người lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng; Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Điều đó có nghĩa bạn chỉ được tiếp tục đóng bảo hiểm thất nghiệp tại nơi làm việc mới chứ không thể tự nộp bảo hiểm thất nghiệp được.

Chào luật sư ! Tôi vào làm cty cũ vào tháng 10/2010 và đã xin nghỉ việc vào tháng 7/2016. Hiện tôi mới xin vào 1 cty khác làm đc nửa tháng nhưng chỉ ký hợp đồng làm cộng tác viên ( ko phải đóng bảo hiểm hay gì hết ). Nếu tôi nộp sổ bảo hiểm tại địa phương thì tôi có đc hưởng trợ cấp thất nghiệp từ cty cũ ko? Và tôi muốn đc hưởng trợ cấp từ cty cũ thì tôi phải làm như thế nào? Mong luật sư tư vấn giúp. Cám ơn !

Theo quy định tại Điều 6 NGhị định 28/2015/NĐ-CP và Điều 57 Luật việc làm 2013 thì bạn không thể nộp bảo hiểm thất nghiệp tại địa phương tức muốn được hưởng trợ cấp thất nghiệp bạn buộc phải tiếp tục nộp tại nơi làm việc mới của mình.

Về việc bạn muốn được hưởng trợ cấp thất nghiệp từ công ty cũ của mình thì nếu bạn thuộc vào một trong các trường hợp tại Điều 49 sau thì bạn sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp:

Điều 49. Điều kiện hưởng

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.

kính chào luật sư , em nghỉ việc tại công ty và làm thủ tục nhận được trợ cấp thất nghiệp 1 tháng rồi , bây giờ em đã xin được việc làm thì em có thể nhận được trợ cấp bhtn nữa không ? nếu có thì phải cần thủ tục như thế nào ?

Theo quy định tại Điều 49 Luật việc làm 2013 về bảo hiểm thất nghiệp thì trường hợp của bạn đã nhận được trợ cấp thất nghiệp, tuy nhiên bạn đã có được việc làm mới cho nên bạn không thuộc trường hợp được hưởng trợ cấp thất nghiệp trong trường hợp này..

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật, về luật dân sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua qua email: để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

 Bộ phận Tư vấn Pháp luật Lao động - Công ty Luật Minh Khuê.