1. Tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam là Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên của ta được thành lập vào ngày 22/12/1944 theo sự chỉ đạo của vị lãnh tụ Hồ Chí Minh. Thực hiện trong sứ mệnh tuyên truyền, mang đến sức mạnh và lý tưởng giải phóng đất nước. Đội quân này được hình thành ban đầu trong ý nghĩa áp dụng ngay vào thời kỳ chiến tranh.

Khi mới thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân chỉ vỏn vẹn có 34 cán bộ, chiến sĩ. Đây là lực lượng được giao trách nhiệm, nhiệm vụ giải phóng đất nước. Đóng góp và phối hợp với Đảng tham gia chiến tranh. Đội được chia thành 3 tiểu đội và 34 khẩu súng các loại. Lực lượng mỏng nhưng đã sớm phát huy được những truyền thống chống giặc ngoại xâm và nghệ thuật quân sự lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn của dân tộc ta.

 

2. Quân đội nhân dân Việt Nam từ khi thành lập đến năm 1975.

Trong Luận cương Chính trị tháng 10/1930, Đảng ta đã khẳng định con đường giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc phải tổ chức ra quân đội công nông để giành chính quyền và giữ chính quyền. Vì vậy, ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các tổ chức vũ trang lần lượt được hình thành. Sự phát triển mạnh mẽ, rộng khắp và trưởng thành của phong trào đấu tranh cách mạng đòi hỏi cách mạng Việt Nam phải có một đội quân chủ lực thống nhất về mặt tổ chức để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc.

Ngay từ lần đầu ra quân, đội quân chính quy đầu tiên của Việt Nam đã giảnh được những chiến công vang dội. Đến ngày 15 tháng 5 năm 1945 Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân sáp nhập với lực lượng Cứu quốc quân và đổi tên thành Giải phóng quân. Lực lượng đông đảo và trở thành lực lượng quân sự chủ yếu của Mặt trận Việt Minh. Ngày 15/5/1945, tại Định Biên Thượng, Định Hóa, Thái Nguyên, đồng chí Võ Nguyên Giáp trở thành Tư lệnh các lực lượng vũ trang thống nhất, mang tên Việt Nam Giải phóng quân.

Với sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang cùng các tầng lớp Nhân dân đồng loạt đứng dậy tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa của Nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam Giải phóng quân được đổi tên thành Vệ Quốc quân. Năm 1946, Vệ Quốc quân đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1950, đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt Nam. 

Ngày 22/12/1944, ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - Đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được lấy làm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam. Sau Cách mạng Tháng Tám, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng oanh liệt trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954) và chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975).

Vào hồi 17 giờ ngày 25/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã mưu trí, táo bạo, bất ngờ đột nhập vào đồn Phai Khắt (đóng tại tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, nay thuộc xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng); 7giờ sáng ngày 26/12/1944 lại đột nhập đồn Nà Ngần (đóng tại xã Cẩm Lý, châu Nguyên Bình, nay thuộc xã Hoa Thám, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), giết chết hai tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính địch và thu tất cả vũ khí, quân trang, quân dụng. Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần đã mở đầu cho truyền thống của quân đội ta.

Đến ngày 22 tháng 5 năm 1946, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh thành lập Quân đội quốc gia Việt Nam. Năm 1951, Quân đội quốc gia Việt Nam đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam. Quá trình chiến đấu và chiến thắng của Quân đội Nhân dân Việt Nam có thể nhận thấy thông qua các chiến dịch sau:

– Thời kì chống Pháp (1945-1954): Chiến thắng Việt Bắc – Thu Đông năm 1947, chiến thắng Biên giới năm 1950, chiến thắng Tây Bắc năm 1952, chiến thắng Thượng Lào năm 1953, chiến thắng Đông Xuân năm 1953 đến 1954.

-Thời kì chống Mỹ (1954-1975):

+ Từ năm 1961 đến năm 1965 ta đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mĩ

+ Từ năm 1965 đến ăm 1968 ta đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ của Mĩ

+ Từ năm 1968 đến năm 1972 ta đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh

+ Cuộc tổng tiến công và nội dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

 

3. Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ tổ quốc từ 1975 đến nay. 

Trong những năm 1975-1977, quân đội ta thực hiện điều chỉnh một bước về quân số, tổ chức biên chế; vừa đẩy mạnh huấn luyện, xây dựng chính quy phù hợp với tình hình mới, vừa tham gia xây dựng đất nước. Toàn quân đã bố trí 256.000 cán bộ, chiến sĩ chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế. Và luôn thực hiện nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cán bộ, chiến sỹ trong quân đội đã khắc phục khó khăn, gian khổ, tham gia xây dựng tuyến đường sắt Bắc - Nam; khai hoang xây dựng các vùng kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, phát triển các nông trường, lâm trường quốc doanh trên các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên, Nam Bộ.

Tháng 4/1977, tập đoàn Pôn Pốt - Iêngxari phát động cuộc chiến tranh xâm lược vùng biên giới Tây Nam. Mùa khô năm 1978, chúng đã huy động 19 sư đoàn bộ binh tiến công trên toàn tuyến biên giới, gây ra nhiều cuộc thảm sát man rợ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngày 23/12/1978, quân và dân ta trên toàn tuyến biên giới Tây Nam đã tiến hành mở cuộc phản công chiến lược và đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của tập đoàn phản động Pôn Pốt - Iêngxari.

Còn ở biên giới phía Bắc, ngày 17/02/1979, Trung Quốc đã huy động 60 vạn quân tiến công trên toàn tuyến biên giới 6 tỉnh phía Bắc nước ta. Các lực lựng vũ trang chiến đầu không ngừng, đến ngày 16 tháng 03 năm 1979 thì buộc Trung Quốc phải rút hết quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam

Quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những đóng góp xứng đáng vào những thành tựu chung của đất nước trong gần 30 năm đổi mới. Quân đội đã chủ động tham mưu, đề xuất với Đảng và Nhà nước hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách; ra Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đã tham mưu với Đảng và Nhà nước đề ra đối sách phù hợp, xử lý linh hoạt, đúng đắn các tình huống phức tạp, các vấn đề nhạy cảm về quốc phòng - an ninh, trong quan hệ đối nội và đối ngoại, không để đất nước bị động, bất ngờ về chiến lược, đồng thời không để cho các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quan hệ tốt với các nước láng giềng; bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.

Quân đội nhân dân Việt Nam đã luôn luôn nêu câo tình thần chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, luôn luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, duy trì và thực hiện tốt công tác sẵn sàng chiến đấu khi có lệnh. Luôn chủ động và kiên quyết đấu tranh phòng chống chiến lược" diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, kịp thời phát hiện và ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu hành động của thế lực thù địch bảo về đảng, bảo vệ chính quyền và thành quả của cuộc cách mạng. 

Hiện nay quân đội nhân dân Việt Nam vẫn phát huy tốt vai trò , sức mạnh của mình trong công tác bảo vệ đất nước vững mạnh, theo đó thì công tác rèn luyện của các đồng chí, cán bô trong quân đội vẫn được nghiêm túc thực hiện theo chỉ thị cấp trên và theo quy định của pháp luật Việt Nam. Quân đội nhân dân Việt Nam luôn cố gắng làm tròn nghĩa vụ và sứ mệnh của mình

Trên đây là toàn bộ những thông tin mà chúng tôi muốn cung cấp cho các bạn có liên quan đến quá trình hình thành và phát triển của quân đội nhân dân Việt Nam, hi vọng rằng thông qua những thông tin mà chúng tôi cung cấp thì các bạn đã có thêm thông tin hiểu biết về lịch sử Việt Nam về quân đội nhân dân Việt Nam và nắm được những dấu ấn quan trọng trong quá trình phát triển và xây dựng một hệ thống quân đội vững mạnh để bảo vệ đất nước. 

Nếu có phản ánh về bài viết hoặc có những thắc mắc thì các bạn có thể liên hệ với tổng đài 19006162  hoặc gửi qua email lienhe@luatminhkhue.vn của công ty luật Minh Khuê để có thể được giải đáp nhanh chóng nhất có thể.