1. Một số hạn chế về địa vị pháp lý hành chính của người nước ngoài so với công dân Việt Nam

Người nước ngoài không có quyền bầu cử, ứng cử vào các cơ quan quyền lực của nhà nước Việt Nam, không có quyền tham gia vào hoạt động của bộ máy nhà nước với tư cách là cán bộ, công chức.

Người nước ngoài không phải làm nghĩa vụ quân sự đối với Nhà nước Việt Nam; không bị áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào các cơ sở giáo dục, đưa vào các cơ sở chữa bệnh và quản chế hành chính.

Người nước ngoài có quyền làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nhưng phải có giấy phép lao động do Bộ Lao động – thương binh và xã hội Việt Nam cấp.

Người nước ngoài có quyền kinh doanh, trừ một số ngành nghề liên quan đến an ninh quốc phòng.

Nhà nước CHXHCN Việt Nam xác lập và thực hiện các biện pháp bảo đảm đầu tư của các tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam.

Nhà nước CHXHCN Việt Nam bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, bảo đảm lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài trong hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam.

Người nước ngoài được vào học tại các trường học Việt Nam, trừ một số trường, ngành học có liên quan đến an ninh quốc phòng.

Người nước ngoài có quyền kết hôn với công dân Việt Nam, tuy nhiên nếu kết hôn với công dân Việt Nam đang phục vụ trong quân đội, các ngành liên quan đến bí mật quốc gia phải được các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam xác nhận việc kết hôn đó không ảnh hưởng đến việc bảo vệ bí mật quốc gia hoặc không trái với quy chế của ngành đó.

Người nước ngoài được nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi với một số điều kiện nhất định.

Người nước ngoài được cư trú ở Việt Nam dưới hình thức tạm trú hoặc thường trú ngoài những khu vực cấm, người nước ngoài ở Việt Nam có thể bị chấm dứt cư trú trước thời hạn nếu bị cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trục xuất.

Người nước ngoài không được kết nạp vào một số tổ chức xã hội của Việt Nam.

2. Quy chế pháp lý 

Đầu tiên là phải tiếp xúc lãnh sự, xác định đúng thân nhân, lai lịch, con người, phải có căn cứ pháp lý, bước đầu tiên để xác định việc bảo hộ tích cực cho công dân tích mình. Cả sứ quán, cả trong nước, cả Bộ ngoại giao, các cơ quan có liên quan đều phải vào cuộc để giải quyết việc đó

Công dân một nước phạm tội ở nước khác, có hai khả năng xảy ra: Một là nghi phạm bị xét xử tại nước sở tại (tài phán hình sự tại nơi xảy ra sự việc), hai là được dẫn độ về nước (tài phán hình sự theo nguyên tắc bảo hộ công dân theo quốc tịch). 

Để giải quyết vấn đề này, nếu các quốc gia không có Hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự thì khi xảy ra tranh chấp quyền tài phán hình sự, các nước sẽ giải quyết theo con đường ngoại giao. 

Tuy nhiên trong trường hợp nghi phạm là người Đông Nam Á, do Malaysia thuộc ASEAN, các nước trong khối đã ký Hiệp định tương trợ tư pháp nên Malaysia sẽ có quyền điều tra, xét xử nghi phạm. 

Theo đó, Nghi phạm có quyền gặp luật sư, gia đình mình hoặc thậm chí đại diện ngoại giao. Điều đó có nghĩa đại diện ngoại giao có thể liên lạc với điều tra viên, yêu cầu thăm nghi phạm hoặc thu xếp mời luật sư cho nghi phạm đó.

3. Quy chế pháp lý dân sự của người nước ngoài ở các nước

Nội dung cụ thể của quy chế pháp lý dân sự của người nước ngoài tuỳ thuộc vào pháp luật của quốc gia nơi người đó cư trú và điều ước quốc tế mà quốc gia đó ký kết hoặc tham gia. Pháp luật và điều ước quốc tế của các nước đều có quy định về vấn đề này.

ở các nước phương Tây, theo nguyên tắc chung được thừa nhận từ lâu, về hình thức, người nước ngoài có quyền bình đẳng với công dân nước sỗ tại trong lĩnh vực dân sự. Ví dụ, theo Điều 11 Bộ luật Dân sự Thuỵ Sỹ năm 1907, mọi ngưòi đều có năng lực hưỏng quyển. Quy định này chứng tồ mọi cá nhân đều được pháp luật Thuỵ Sỹ cho hưởng năng lực pháp luật dân sự mà không cần biết có quốc tịch hay không hoặc có quốc tịch nào, cư trú ở đâu.

Tuy nhiên, việc quý định dành cho người nước ngoài các nước phương Tây chế độ đãi ngộ quốc dân chỉ là nguyên tắc chung, đôi khi phải dựa trên cơ sở có đi có lại. Ví dụ, Điều 11 Bộ luật Dân sự Napôlêôn năm 1804 quy định: "Người nước ngoài được hưởng ở Pháp các quyền dân sự mà các quyền đó đã dành hoặc sẽ dành 'cho công dân Pháp ở nước ngoài hữu quan trên cơ sở điều ước quốc tế". Trong trường hợp các nước phương Tây không đặt vấn đề có đi có lại trong việc dành các quyền dân sự cho người nước ngoài thì vấn đề áp dụng các biện pháp trả đũa được đặt ra và có ý nghĩa quan trọng.

Những ngoại lệ của nguyên tắc chung về việc dành cho người nước ngoài chê độ đãi ngộ quốc dân cũng được quy định trong pháp luật các nước phương Tây, nhằm hạn chế các quyền dân sự của người nước ngoài. Những hạn chế đó thường được quy định trong các lĩnh vực như chọn ngành, chọn nghề, nơi làm việc, nơi học tập, v.v...

Ví dụ, Cộng hoà Liên bang Đức, nhiều quyền dân sự dành cho công nhân là công dân Đức, nhưng không dành cho công nhân là người nước ngoài. Theo Điều 6 của Luật của Cộng hoà Liên bang Đức về người nước ngoài năm 1965, người nước ngoài không có quyền hội họp, lập hội, chọn nghề, nơi làm việc, nơi học tập1. Theo Luật nhập cư của Anh năm 1971, công dân nước ngoài nhập cư vào nước Anh chỉ được xếp ngang với công nhân làm theo quy chế mùa vụ; chỉ được phép làm việc ỏ những vị trí nhất định, dưới hình thức và trong thời hạn nhất định; không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền, thì không được thay đổi công việc được phép làm Theo pháp luật của Pháp, người nước ngoài ở Pháp không được hành nghề luật sư, không được làm công chứng viên, bác sĩ ...ở một số nưởc phương Tây còn có những quy định nhằm hạn chế quyền dân sự không phải của người nước ngoàichung chung mà là của công dân một số nước ngoài nhất định. Tức là có sự phân biệt đối xử vì lý do quốc tịch. Ví dụ, bắt đầu từ năm 1951, Mỹ có cả hệ thống những quy định và biện pháp nhằm hạn chê các quyền tài sản của công dân các . nước mà Mỹ không thiết lập quan hệ ngoại giao. Nhiều bang của Mỹ đã ban hành các đạo luật cho phép toà án cấm người thừa kế cư trú ở một số nước chuyển tài sản thừa kế ra khỏi' nước Mỹ.

Nhìn chung, việc quy định cho phép người nước ngoài hưởng chế độ đãi ngộ quốc dân hay các chế độ pháp lý khác trong lĩnh vực quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, cho hưởng ở phạm vi nào, với mức độ nào, là vấn đề thuộc chủ quyền của mỗi quốc gia; quốc gia tự quyết định trên cơ sồ đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại của mình, nhưng cũng phải tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế và của tư pháp quốc tế, trong đó có nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các cá nhân vì lý do dân tộc, chủng tộc, quốc tịch, ngôtì ngữ, tôn giáo, trình độ văn hoá, giàu nghèo ...Với cách đặt vấn đề trên, rõ ràng các quy định trên của Mỹ không thể chấp nhận được. Các quy định đó thể hiện sự phân biệt đốỉ xử trong quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, trái vối các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế, không thúc đẩy phát triển giao lưu kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ và văn hoá giữa các quốc gia.

Ở các nước Đông Âu, Nga và các nước hình thành do sự tan rã của Liên Xô, ngưồi nước ngoài cũng được hưởng chế độ đãi ngộ quốc dân trong lĩnh vực dân sự vối một số ngoại lệ nhất định. Chẳng hạn ở Nga, người nước ngoài không được khai thác, đánh bắt cá và hải sản khác ở các vùng nưốc của nưốc Nga, không được tiến hành nghiên cứu thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản, v.v. tại thềm lục địa của Nga, trừ trưòng hợp được điểu ưốc quốc tế của Nga cho phép. Theo Điều 8 Luật năm 1965 về tư pháp quốc tế của Ba Lan, Điều 400 Bộ luật Dân. sự của Mông cổ, người rnỉốc ngoài có các quyền và nghĩa vụ dân sự ngang công dân nưốc sỏ tại, nếu pháp luật và điều ước quốc tế của nước sỏ tại không có quy định khác.

Ngoài các quy định liên quan đến việc dành cho người nước ngoài chế độ đãi ngộ quốc dân, các nước trên thế giới đều có quy định hoặc ký các điều ước quốc tế về việc dành cho người nước ngoài các chế độ pháp lý khác như chế độ tối huệ quốc trong lĩnh vực buôn bán và hàng hải quốc tế, và chế độ đãi ngộ đặc biệt.

4. Thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý hành chính của người nước ngoài cư trú tại Việt Nam

Ngoài những hạn chế nói trên xuất phát từ nguyên tắc quốc tịch bảo đảm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, người nước ngoài không những được hưởng quyền và phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý hành chính như đối với công dân Việt Nam mà còn được nhà nước CHXHCN Việt Nam bảo đảm pháp lý hành chính như đối với công dân Việt Nam.

5.Năng lực chủ thể của người nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Điều 673 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định hai nguyên tắc xác định năng lực chủ thể của người nước ngoài:

Thứ nhất, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch. Với quy định này, cá nhân là công dân của quốc gia nào thì năng lực pháp luật của họ sẽ xác định theo pháp luật quốc gia đó. Quy định này thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa cá nhân với quốc gia mà họ mang quốc tịch, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người nước ngoài khi tham gia vào các quan hệ dân sự.

Ví dụ: Tòa án Việt nam giải quyết vụ tranh chấp về hợp đồng giữa một công dân Hoa kỳ và công dân Việt Nam. Trong trường hợp này năng lực pháp luật của công dân Việt nam áp dụng pháp luật Việt Nam, năng lực pháp luật của công dân Hoa Kỳ sẽ được xác định theo pháp luật Hoa Kỳ.

Bên cạnh nguyên tắc chủ đạo trên, tư pháp quốc tế Việt Nam còn áp dụng nguyên tắc thư hai để xác định năng lực pháp luật dân sự của người nước ngoài là “Người nước ngoài tại Việt nam có năng lực pháp luật dân sự như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác (Khoản 2 Điều 673). Trường hợp này đặt ra khi người nước ngoài tại Việt Nam và tham gia các quan hệ dân sự thì năng lực pháp luật của người đó được xác định như công đân Việt Nam và theo pháp luật Việt Nam.

Kết hợp giữa Khoản 1 và Khoản 2 của Điều 673 Bộ luật dân sự năm 2015 cho thấy, để xác định năng lực pháp luật dân sự của người nước ngoài tại Việt nam, ngoài việc căn cứ vào pháp luật của nước mà người đó mang quốc tịch còn căn cứ trên cở sở các quy định của pháp luật Việt Nam.

Ví dụ, tòa án Việt Nam giải quyết một vụ tranh chấp về quyền sở hữu tài sản giữa một công dân Hoa Kỳ và công dân Việt Nam và công dân Hoa Kỳ đó đang cứ trú tại Việt Nam. Khi xem xét năng lực pháp luật của công dân này (quyền sở hữu tài sản), ngoài việc căn cứ vào pháp luật của Hoa Kỳ (luật của nước mà đương sự mang quốc tịch) tòa án Việt Nam còn căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt nam. Trong trường hợp này công dân Hoa Kỳ sẽ có năng lực pháp luật như công dân Việt Nam.

 Trong trường hợp áp dụng pháp luật của nước mà người nước ngoài mang quốc tịch dẫn đến hậu quả trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam thì các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam sẽ không áp dụng luật nước ngoài đó mà sẽ áp dụng pháp luật Việt Nam (Điều 670 Bộ luật dân sự năm 2015).

Tuy nhiên, người nước ngoài tại Việt Nam, không phải trong mọi trường hợp người đó đều có năng lực pháp luật dân sự như công dân Việt Nam. Pháp luật Việt Nam cũng như hầu hết pháp luật các nước đều có những quy định về quyền và nghĩa vụ dành riêng cho công dân nước mình như quyền được phục vụ trong lực lượng vũ trang công an, quân đội,…chỉ dành riêng cho công dân Việt nam (trừ một số trường hợp ngoại lệ).

Điều 673 của Bộ luật dân sự năm 2015 tuy có sự hoán đổi về câu chữ tại Khoản 2, “người nước ngoài tại Việt Nam có năng lực pháp luật dân sự như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác” nhưng thực chất là đã kế thừa toàn bộ nội dung của Điều 761 Bộ luật dân sự năm 2005.

Đối với người không quốc tịch, pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có mối quan hệ gắn bó nhất (Điều 672). Hệ thuộc luật quốc tích và hệ thuộc luật nơi cư trú là hai dạng chính của hệ thuộc luật nhân thân- một trong các hệ thuộc luật lâu đời của tư pháp quốc tế thường được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến nhân thân của các bên chủ thể.

Đối với người có nhiều quốc tịch, “pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có quốc tịch và cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất. (Khoản 2, Điều 672). Pháp luật nước được coi là gắn bó nhất sẽ được xác định theo từng trường hợp, hoàn cảnh, từng loại quan hệ nhất định, ví dụ, có thể là nơi tồn tại bất động sản trong quan hệ sở hữu, nơi ký kết hợp đồng trong quan hệ hợp đồng.

Nếu pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc tịch, trong đó có quốc tịch Việt Nam thì pháp luật áp dụng là pháp luật Việt Nam.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )