1.Quy chế pháp lý dân sự của pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài

Những năm gần đây, thực hiện chính sách làm bạn với tất cả các nước, đẩy mạnh quan hệ kinh tế đôì ngoại, hoạt động của các pháp nhân Việt Nam các nước ngoài ngày càng gia tăng. Hiện nay, hoạt động của các pháp nhân Việt Nam ở nưổc ngoài không chỉ còn là hoạt động tìm hiểu thị trường và ký kết hợp đồng xuất, nhập khẩu hàng hóa mà gồm cả hoạt động đấu thầu xây dựng, cung cấp dịch vụ, đầu tư xây dựng doanh nghiệp liên doanh với các tổ chức, cá nhân nước sở tại và thậm chí xây dựng cả doanh nghiệp 100% vốh của Việt Nam ở nước ngoài... Những hình thức hoạt động này sẽ ngày càng phát triển và đa dạng, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, với sức mạnh kinh tế, khoa học và công nghệ của Việt Nam nói chung và của các tổ chức kinh tế Việt Nam nói riêng.

Pháp luật Việt Nam không quy định rõ ràng và cụ thể vấn đề năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân Việt Nam khi hoạt động ỏ nưốc ngoài. Song theo tinh thần của Điều 832 Bộ luật Dân sự Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân Việt Nam được xác định theo pháp luật Việt Nam. Tẩt cả các vấn đề nội bộ, chia tách,sáp nhập, giải thể, xử lý tài sản khi giải thể của pháp nhân Việt Nam đều phải thực hiện theo pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, khi hoạt động ỏ nước ngoài, phạm vi quyền và nghĩa vụ cụ thể của pháp nhân Việt Nam trên lãnh thổ nước ngoài tuỳ thuộc vào các quy định của pháp luật nưổc ngoài và điều ước quốc tế mà nước ngoài đó ký kết với Việt Nam, đồng thời các pháp nhân, các cơ quan đại diện của pháp nhân Việt Nam hoạt động ỏ nước ngoài không được làm trái với quy định của pháp luật Việt Nam và của điều lệ pháp nhân.

Các pháp nhân Việt Nam, bất kể thuộc thành phần kinh tế nào, dù hoạt động ở trong nước hay ỏ nước ngoài, đều tự chịu trách nhiệm dân sự trong phạm vi tài sản của mình. Nhà nước Việt Nam không chịu trách nhiệm thay cho pháp nhân Việt Nam và pháp nhân Việt Nam, dù đó là doanh nghiệp Nhà nước, cũng không phải chịu trách nhiệm dân sự về những hợp đồng do chính bản thân Nhà nước ký kết. Nhà nước. Việt Nam chỉ thực hiện bảo hộ ngoại giao đối với pháp nhân Việt Nam khi ở nưốc ngoài pháp nhân có các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi để các pháp nhân của mình hoạt động có hiệu quả.

2. Năng lực pháp luật của pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam 

"Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi pháp nhân đó được thành lập, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Trong trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân được xác định theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Với cá nhân, khả năng tham gia quan hệ pháp luật dân sự được pháp luật thừa nhân nhưng việc xác lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật chỉ được thực hiện khi cá nhân đạt đến một độ tuổi nhất định, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Ngược lại, đối với pháp nhân, kể từ thời điểm được pháp luật thừa nhận tư cách pháp lý, pháp nhân có quyền tham gia xác lập, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật dân sự  Như vậy, có thể thấy năng lực pháp luật của pháp nhân bao gồm cả khả năng pháp nhân có quyền và nghĩa vụ và khả năng pháp nhân bằng hành vi của mình xác lập các quyền và nghĩa vụ.

– Xét theo phương diện thứ nhất, khả năng pháp nhân được pháp luật cho phép có các quyền và nghĩa vụ dân sự được hiểu pháp nhân chỉ quyền tham gia những quan hệ pháp luật mà quốc gia cho phép. Chẳng hạn như ở Mỹ, chính phủ cho phép người dân sử dụng súng, như vậy, một số pháp nhân đủ điều kiện được phép kinh doanh súng, đạn dược, ngược lại theo pháp luật Việt Nam, súng bị liệt vào danh mục tài sản cấm lưu thông, nên không có tổ chức, cá nhân được phép sở hữu và kinh doanh. Trong trường hợp việc xác định khả năng có quyền và nghĩa vụ một mặt tuân theo pháp luật Mỹ (có quyền kinh doanh tại Mỹ) nhưng khi thực hiện các giao dịch tại Việt Nam thì phải tuân theo pháp luật Việt Nam.

– Xét theo phương diện thứ hai, khả năng pháp nhân bằng hành vi xác lập các quyền và nghĩa vụ được xem xét dưới các điều kiện mà điều kiện mà pháp nhân cần phải đáp ứng khi tham gia vào các lĩnh vực cụ thể. Chẳng hạn những yêu cầu về vồn pháp định, nhân sự chất lượng cao, cơ sở vật chất kỹ thuật… mà mỗi quốc gia có thể đặt ra những quy định khác nhau. Trong trường hợp  này, việc xác định điều kiện phải tuân theo pháp luật nước nơi pháp nhân tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.

3.Pháp nhân phải được thành lập hợp pháp hay không ?

Một pháp nhân được thành lập hợp pháp khi được pháp luật cho phép hoặc thừa nhận, nói cách khác thì phải được thành lập theo trình tự, thủ tục luật định.

Việc thành lập đăng ký pháp nhân được quy định tại Điều 82 Bộ luật dân sự năm 2015.

“1. Pháp nhân được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, pháp nhân hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Đăng ký pháp nhân bao gồm đăng ký thành lập, đăng ký thay đổi và đăng ký khác theo quy định của pháp luật.

3. Việc đăng ký pháp nhân phải được công bố công khai.”

Trên cơ sở mục đích, nhiệm vụ, chức năng của một tổ chức mà Nhà nước bằng pháp luật công nhận tổ chức đó là pháp nhân thông qua các hình thức: Cơ quan có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng kí hoặc công nhận thành lập. Tính hợp pháp của pháp nhân giúp pháp nhân đó tham gia các quan hệ pháp luật và tồn tại dưới sự kiểm soát, đảm bảo của Nhà nước nhằm phù hợp với ý chí của Nhà nước đó. Do đó, tổ chức thành lập không hợp pháp thì không được coi là pháp nhân, tổ chức đó được công nhận là có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận thành lập.

Ví dụ:  công ty TNHH Luật A được thành lập hợp pháp. Tức là công ty TNHH A phải đăng ký thành lập doanh nghiệp và được Sở kế hoạch đầu tư tỉnh, thành phố mà nơi công ty đóng trụ sở cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

4.Pháp nhân có phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ hay không ?

Cơ cấu tổ chức của pháp nhân được quy định tại Điều 83 Bộ luật dân sự năm 2015

“1. Pháp nhân phải có cơ quan điều hành. Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân.

2. Pháp nhân có cơ quan khác theo quyết định của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.”

Tổ chức là tập hợp nhiều người có cùng chung mục đích, lợi ích… được thành lập với những chức năng, nhiệm vụ cụ thể nhằm thực hiện một mục đích nào đó. Cơ cấu tổ chức chặt chẽ giúp cho pháp nhân trở thành một thể thống nhất, vận hành, hoạt động một cách có hiệu quả. Cơ cấu tổ chức chặt chẽ nghĩa là pháp nhân phải có sự sắp xếp, phân bổ nguồn nhân lực vào các bộ phận như phòng, ban… và quy định cho từng bộ phận đó những chức năng, nhiệm vụ cụ thể trong Điều lệ. Tuy nhiên, điều kiện này có lẽ chưa thực sự chính xác và không cần thiết vì trong một số trường hợp (Chẳng hạn công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên…) tổ chức không đáp ứng điều kiện này nhưng vẫn được coi là pháp nhân.

Ví dụ: Công ty TNHH Luật A muốn trở thành pháp nhân phải có điều lệ hoặc quyết định thành lập pháp nhân. Trong điều lệ và quyết định thành lập phải có quy định cụ thể về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cá nhân tổ chức điều hành pháp nhân.

5.Pháp nhân phải có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó

Giống như các chủ thể dân sự khác, để có thể thực hiện các quyền và gánh vác nghĩa vụ khi tham gia các quan hệ dân sự, pháp nhân  cần phải có một khối lượng tài sản nhất định, tài sản chịu trách nhiệm là tài sản độc lập của pháp nhân, đó là tài sản tất cả các loại mà pháp nhân sở hữu. Tài sản của pháp nhân theo đó bao gồm “vốn góp của chủ sở hữu, sáng lập viên, thành viên của pháp nhân và tài sản khác mà pháp nhân được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.” (Điều 81)

Pháp nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình. Nội dung này thể hiện mối quan hệ giữa pháp nhân với thành viên pháp nhân và được thể hiện ở quy định tại khoản 2 và 3 Điều 87 Bộ luật dân sự năm 2015.:

“2. Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu trách nhiệm thay cho người của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do người của pháp nhân xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.

3. Người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện, trừ trường hợp luật có quy định khác.”

Theo đó pháp nhân không chịu trách nhiệm thay cho thành viên đối với nghĩa vụ dân sự do thành viên xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân, còn thành viên thì không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện.

Pháp nhân là tổ chức độc lập để xác lập quyền và nghĩa vụ trong hoạt động của nó, nên bắt buộc phải có tài sản độc lập. Có tài sản độc lập mới có thể tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình đối với các giao dịch, quyền và nghĩa vụ mà nó xác lập và tài sản của pháp nhân còn phải có sự độc lập, tức là pháp nhân có đầy đủ 3 quyền năng của quyền sở hữu là chiếm hữu, sử dụng và định đoạt để không chịu sự chi phối ràng buộc của bất kỳ ai, đảm bảo tư cách chủ thể của pháp nhân.

Mặt khác, để thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể nên pháp luật quy định pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm bằng khối tài sản đó. Trách nhiệm của pháp nhân khi vi phạm nghĩa vụ không thể do một cơ quan, tổ chức khác gánh vác và các thành viên của pháp nhân chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của mình đã góp (trừ trường hợp công ty hợp danh) vào pháp nhân. Đây cũng là một yếu tố để phân biệt pháp nhân với thể nhân.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )