CHƯƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ THÀNH VIÊN HỢP TÁC XÃ .

1. Khái quát về hợp tác xã

a, Khái niệm:

 Theo Điều 3 Luật hợp tác xã 2012 đã đưa ra định nghĩa: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”.

b,Về mặt bản chất, hợp tác xã là mô hình kinh doanh đặc thù thuộc thành phần kinh tế tập thể, có mục tiêu: “lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích của các thành viên và lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các thành viên, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tiến lên làm giàu cho các thành viên, phát triển cộng đồng”. Khác với doanh nghiệp, hợp tác xã luôn tồn tại song song hai chức năng kinh tế và xã hội. Trong đó tính chất xã hội được đề cao là mục đích nòng cốt trong suốt quá trình hoạt động của hợp tác xã.

Trước hết, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tập thể, có các thành viên là cá nhân hoặc tổ chức. Tài sản, vốn và tư liệu sản xuất của hợp tác xã được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của các thành viên, khi họ gia nhập hợp tác xã. Trong hợp tác xã có sự liên kết rộng rãi của những người lao động, của các hộ thành viên, của các nhà đầu tư, của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.. thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Sự liên kết và hợp tác này không bị giới hạn bởi số lượng thành viên, quy mô, lĩnh vực và địa bàn sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ. Ngoài các thành viên là cá nhân, các hộ gia đình, các tổ chức, các doanh nghiệp khác cũng có thể được kết nạp làm thành viên hợp tác xã.

Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Tính xã hội được thể hiện qua việc hợp tác xã hoạt động để tối đa hóa lợi ích cho thành viên. Thông qua đáp ứng nhu cầu chung của các thành viên về sản phẩm, dịch vụ, việc làm, nâng cao thu nhập một cách hiệu quả hơn so với từng thành viên hoạt động riêng lẻ. Bên cạnh việc phải hoạt động có hiệu quả như doanh nghiệp tức là hoạt động có lãi để đổi mới và tiếp tục phát triển đem lại lợi nhuận cho thành viên thì hợp tác xã còn có mục đích hoạt động mang tính xã hội sâu sắc thuộc về bản chất của hợp tác xã mà doanh nghiệp k có được chính là sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, giữa các chủ thể kinh tế kết hợp sức mạnh của từng thành viên với ưu thế và sức mạnh của tập thể để giải quyết tốt hơn những vấn dề của sản xuất kinh doanh và đời sống kinh tế , nhằm nâng câo hiệu quả hoạt động và lợi ích của mỗi thành viên. Còn doanh nghiệp là tổ chức kinh tế, thành viên chỉ là người góp vốn cho doanh nghiệp và chia lãi theo vốn góp, mọi lợi ích trc hết là của chủ doanh nghiệp, mục tiêu của doanh nghiệp là hoạt động chỉ đáp ứng nhu cầu dịch vụ cho thị trường, không phải là cho nhu cầu của người góp vốn.

Xét về góc độ pháp lý, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của hợp tác xã. Bộ luật Dân sự năm 2015 tại Điều có quy định một tổ chức được coi là một pháp nhân khi có đầy đủ các điều kiện sau: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với các cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Đối chiếu với quy định về hợp tác xã tại Luật hợp tác xã năm 2012, hợp tác xã có đầu đủ các điều kiện để trở thành một pháp nhân.

Thành viên hợp tác xã được hưởng thụ các lợi ích chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã, hoặc được trả lương đối với sức lao động và được phân phối thu nhập chia lãi theo vốn góp đối với hợp tác xã được thành lập nhằm mục tiêu tạo việc làm cho thành viên. Thành viên có quyền biểu quyết trong hợp tác xã ngang nhau, không phụ thuộc vào mức vốn góp.

Việc Luật hợp tác xã 2012 xác định rõ hợp tác xã không phải là doanh nghiệp là bước tiến bộ về mặt luật pháp so với các Luật hợp tác xã trước đây. Quy định này trong Luật hợp tác xã 2012 đã góp phần làm rõ hơn bản chất hợp tác xã là tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế tập thể, quản lý dân chủ, tự chịu trách nhiệm, đồng sở hưuũ hợp tác xã, hợp tác xã thành lập để hợp tác tương trợ nhau trong sản xuất, kinh doanh đồng thời cũng phần nào làm giảm bớt số lượng doanh nghiệp núp dưới danh hợp tác xã và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển mô hình kinh tế tập thể này.

Ngoài ra hợp tác xã còn được hưởng các chính sách bảo đảm, hỗ trợ và ưu đãi của Nhà nước. Nhà nước đề ra những chính sách rất cụ thể về bảo đảm, hỗ trợ và ưu đãi đối với các hợp tác xã. Cam kết thực hiện chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác theo quy định của pháp luật về thuế, ưu đãi lệ phí đăng kí hợp tác xã theo quy định cua pháp luật về phí và lệ phí. (Điều 6 Luật hợp tác xã 2012)

b, Vai trò của hợp tác xã đối với nền kinh tế thị trường.

Trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã là bộ phận quan trọng, cùng với kinh tế nhà nước dần trở thành nền tảng của nền kinh tế, đó cũng là nền tảng chính trị - xã hội của đất nước để đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hợp tác xã đã góp phần thu hút và giải quyết được vấn đề việc làm giúp những người lao động, những người sản xuất nhỏ tự nguyện tập hợp nhau lại trong một tổ chức kinh tế chung để giải quyết có hiệu quả hơn những vấn đề sản xuất, kinh doanh và đời sống của họ, đủ sức cạnh tranh và chống lại sự chèn ép của các doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế lớn. Đây cũng là phương thức để bảo đảm lợi ích và xây dựng vị thế của họ trong điều kiện của kinh tế thị trường và hội nhập.

Bên cạnh đó, hợp tác xã cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp trong nền kinh tế; cung cấp các yếu tố đầu vào như vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, giảm thiểu rủi ro và chia sẻ thông tin, kiến thức; áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, thiết bị kỹ thuật hiện đại; là nơi đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, phổ cập thông tin khoa học - kỹ thuật và thông tin thị trường cho người dân; phát huy hiệu quả kinh tế nhờ quy mô; thực hiện các hoạt động tiếp thị, thương lượng giúp người nông dân có được mức giá bán tốt hơn so với những nông dân hoạt động đơn độc,...

2. Thành viên hợp tác xã:

Thành viên hợp tác xã có thể là cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân đủ điều kiện gia nhập hợp tác xã theo quy định của Luật hợp tác xã và điều lệ của hợp tác xã trở thành đồng sở hữu quản lý hợp tác xã theo nguyên tắc dân chủ. Đối tượng có thể là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; hộ gia đình có người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật; pháp nhân Việt Nam. Với hợp tác xã việc làm thì thành viên hợp tác xã chỉ có thể là cá nhân.

3. Vốn của hợp tác xã:

Vốn của hợp tác xã bao gồm: vốn góp của thành viên, vốn huy động; vốn tích luy; các quỹ của hợp tác xã; các khoản trợ cấp, hỗ trợ của Nhà nước, của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước, các khoản được tặng, cho và các nguồn thu hợp pháp khác. Góp vốn ít nhất bằng vốn góp tối thiểu và nhiều nhất bằng vốn góp tối đa (khong vượt quá 20% vốn điều lệ).  Nguồn tài sản của hợp tác xã rất đa dạng. Bên cạnh nguồn vốn chính của là vốn điều lệ do các thành viên hợp tác xã góp hoặc cam kết góp trong thời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ (đáp ứng nhu cầu về vốn pháp định đối với ngành, nghề lựa chọn) thì hợp tác xã có thể có phần ts k chia là tài sản do nhà nước hỗ trợ để hợp tác xã sử dụng vào hoạt động kinh doanh khi hợp tác xã giải thể thì phải trả lại cho chính quyền địa phương.

CHƯƠNG II. QUY CHẾ THÀNH VIÊN HỢP TÁC XÃ THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

1. Xác lập tư cách thành viên hợp tác xã

1.1. Điều kiện chung cho các thành viên

Hợp tác xã là tổ chức kinh tế mang tính xã hội cao, hoạt động như một doanh nghiệp dựa trên các giá trị và nguyên tắc tương trợ, tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng, công bằng và đoàn kết, tạo nên sức mạnh trong việc giúp các hộ gia đình, cá thể, tiểu chủ hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn, tăng khả năng cạnh tranh mạnh hơn trên thị trường. Luật Hợp tác xã năm 2012 đã có những quy định cụ thể và chi tiết về các điều kiện trở thành thành viên của hợp tác xã cũng như về các quyền và nghĩa vụ của các thành viên này.

Điều kiện để trở thành thành viên hợp tác xã được quy định tại Điều 13 Luật Hợp tác xã 2012.

Điều kiện về tư cách chủ thể: Cá nhân là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trí hợp pháp tại Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở lênm có năng lực hành vi dân sự dầy đủ; hộ gia đình có người đại diện hợp pháp theo pháp luật; cơ quan, tổ chức là pháp nhân Việt Nam.

Ngoài các điều kiện riêng đặc trưng cho từng đối tượng thì dù là cá nhân hay tổ chức đều phải đáp ứng các điều kiện riêng đặc trưng cho từng đối tượng thì dù là cá nhân hay tổ chức đều phải đáp ứng các điều kiện chung quy định tại các điểm b, c, d, đ khoản 1 Điều 13 Luật Hợp tác xã:

- Có nhu cầu hợp tác với các thành viên và nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã;

Thu thập của các loại hình hợp tác xã này có được từ việc bán hàng hóa, sản phẩm hoặc thu phí sử dụng dịch vụ của hợp tác xã. Các thành viên càng mua nhiều hàng hóa, sử dụng nhiều dịch vụ của hợp tác xã thì càng tạo ra nhiều lợi nhuận cho hợp tác xã. Các thành viên tham gia vào hợp tác xã nhằm hợp tác cùng nhau lao động, góp vốn, góp sức để phục vụ các hoạt động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã, nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo việc làm, thu lại lợi nhuận. Ngoài ra nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã là điều kiện bắt buộc.

- Có đơn tự nguyện gia nhập và tán thành điều lệ của hợp tác xã: với nguyện vọng tham gia hợp tác xã là tự nguyện, không bị ép buộc, chi phối bởi bất cứ ai. Họ thể hiện điều đó thông qua đơn xin gia nhập hợp tác xã với điều kiện phải tán thành điều lệ của hợp tác xã.

- Góp vốn theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Luật này và điều lệ hợp tác xã: Thành viên hợp tác xã góp vốn theo thỏa thuận và không quá 20% vốn điều lệ của hợp tác xã. Thời hạn góp vốn không quá 06 tháng kể từ ngày hợp tác xã được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoặc kể từ ngày được kết nạp. Khi góp đủ vốn, các thành viên được cấp giấy chứng nhận vốn góp.

- Điều kiện khác theo quy định của điều lệ hợp tác xã.

1.2. Điều kiện với từng đối tượng cụ thể

a, Đối với cá nhân:

Thành viên hợp tác xã là là cá nhân là những người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên (không giới hạn độ tuổi tối đa), có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có đóng góp vốn cổ phần, có đủ sức khỏe và nhận thức tốt để có thể hoàn thành các quyền và nghĩa vụ của một thành viên hợp tác xã, sẵn sang tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh tập thể hoặc có nguyện vọng sử dụng các dịch vụ của hợp tác xã.

Là công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, pháp luật Việt Nam quy điịnh 18 tuổi là độ tuổi tối thiểu phù hợp với sự phát triển, trưởng thành của một con người về mặt sức khỏe cũng như nhận thức nhất định để thực hiện quyền và nghĩa vụ của người lao động, đồng thời có quyền tự quyết mọi việc và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình. Có hành vi dân sự đầy đủ nghĩa là mỗi cá nhân phải có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Những quy định pháp luật này phù hợp và cần thiết, góp phần bảo vệ quyền lợi của thành viên hợp tác xã, đồng thời là biện pháp cần thiết bảo vệ quyền lợi của hợp tác xã. Luật Hợp tác xã 2012 đã mở rộng ohạm vi về mặt quốc tịch so với luật hợp tác xã trước đây, đã mở rộng thêm phạm vi cho đối tượng là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, phù hợp với nguyên tắc “kết nạp rộng rãi” của hợp tác xã, đồng thời quy định theo hướng này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác xã trong hoạt động xuất khẩu sản phẩm dịch vụ hoặc mở văn phòng đại diện tại nước ngoài, đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập.

* Đối với cá nhân là người nước ngoài

Theo quy định cụ thể tại Điều 4, Nghị định 193/2013/NĐ-CP của thủ tướng chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật hợp tác xã 2012: “Ngoài việc đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Khoản 1, Điều 13 Luật Hợp tác xã, cá nhân là người nước ngoài tham gia vào hợp tác xã ở Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

1. Đang cư trú hợp pháp tại Việt Nam, từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Trường hợp tham gia hợp tác xã tạo việc làm thì phải thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam đối với lao động là người nước ngoài.

3. Đối với hợp tác xã có ngành nghề kinh doanh hạn chế về tỷ lệ sở hữu vốn của người nước ngoài thì việc tham gia của người nước ngoài vào hợp tác xã phải tuân thủ các quy định của pháp luật đầu tư liên quan tới ngành nghề đó.

4. Các điều kiện khác do điều lệ hợp tác xã quy định.

Như vậy, đối với việc sử dụng lao động là người nước ngoài thì sẽ có những điểm khác so với việc sử dụng lao động là người Việt Nam vì vậy họ phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật. So với là người mang quốc tịch Việt Nam thì người nước ngoài có những hạn chế nhất định khi tham gia vào hợp tác xã.

b, Đối với cá nhân là cán bộ, công chức:

Cán bộ, công chức muốn trở thành thành viên hợp tác xã thì điều kiện trở thành thành viên hợp tác xã được quy định chặt chẽ hơn. Được thừa nhận ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau: luật Doanh nghiệp 2014; Luật Hợp tác xã 2003; Luật cán bộ, công chức 2008, Luật viên chức 2010; Luật phòng, chống tham nhũng 2005…

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37 Luật phòng, chống tham nhũng và điều 20 Luật cán bộ, công chức, và căn cứ vào khoản 3 Điều 14 Luật viên chức 2010 về quyền của viên chức về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời gian quy định: “Được góp vốn nhưng không tham gia quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác”. Như vậy, viên chức được phép tham gia hợp tác xã với tư cách là thành viên, nhưng không được thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý điều hành hợp tác xã. Theo đó, cán bộ, công chức chỉ được phép góp vốn vào hợp tác xã với tư cách người lao động trong hợp tác xã.

Các quy định như vậy hoàn toàn phù hợp vì nếu trường hợp cán bộ, công chức tự do kinh doanh sẽ không tránh khỏi việc lạm dụng chức quyền để phục vụ lợi ích riêng của công ty và không thể hoàn thành tốt chức năng công việc của mình.

c, Đối với hộ gia đình

Thành viên hợp tác xã là hộ gia đình là các hộ gia đình đáp ứng những tiêu chí do Bộ luật Dân sự quy định. Trong hộ gia đình, các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh doanh chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định. Khi hộ gia đình tham gia vào hợp tác xã, chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch kinh tế với hợp tác xã vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ. Giao dịch kinh tế do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình.

d, Đối với cơ quan, tổ chức là pháp nhân Việt Nam

Thành viên hợp tác xã là các pháp nhân thể hiện một trong những điểm mới trong tư tưởng và chính sách, pháp luật về hợp tác xã ở Việt Nam, đồng thời thể hiện rõ nét quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam. Các thành viên này có đủ bốn yếu tố cấu thành tư cách pháp nhân theo quy định trong Bộ luật Dân sự. Bên cạnh đó, Điều 3 Nghị định 193/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều Luật hợp tác xã quy định:

1. Pháp nhân Việt Nam theo quy định của Bộ luật dân sự có nhu cầu hợp tác với các thành viên khác và nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã.

2. Pháp nhân Việt Nam khi tham gia hợp tác xã phải có đơn tự nguyện gia nhập và tán thành điều lệ của hợp tác xã. Người ký đơn phải là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó.

3. Người đại diện của pháp nhân tại hợp tác xã là người đại diện hợp pháp (đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền) của pháp nhân đó.

4. Góp vốn theo quy định tại Khoản 1 Điều 17 Luật hợp tác xã và điều lệ hợp tác xã.

5. Các điều kiện khác do điều lệ hợp tác xã quy định.

Pháp nhân Việt Nam khi tham gia hợp tác phải có đơn tự nguyện gia nhập và tán thành điều lệ của hợp tác xã. Người ký đơn phải là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân đó. Không khác gì với các đối tượng khác, muốn gia nhập hợp tác xã pháp nhân cũng phải có đơn tự nguyện tham gia hợp tác xã. Khác với cá nhân là người trực tiếp ký đơn thì trong pháp nhân có rất nhiều người nên người ký sẽ là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân.

2. Chấm dứt tư cách thành viên của hợp tác xã

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 16 Luật hợp tác xã 2012 quy định về chấm dứt tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên:

1. Tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên bị chấm dứt khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây:

a) Thành viên là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố là đã chết, mất tích, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị kết án phạt tù theo quy định của pháp luật;

b) Thành viên là hộ gia đình không có người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật; thành viên là pháp nhân bị giải thể, phá sản; hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã bị giải thể, phá sản;

c) Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã bị giải thể, phá sản;

d) Thành viên, hợp tác xã thành viên tự nguyện ra khỏi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã;

đ) Thành viên, hợp tác xã thành viên bị khai trừ theo quy định của điều lệ;

e) Thành viên, hợp tác xã thành viên không sử dụng sản phẩm, dịch vụ trong thời gian liên tục theo quy định của điều lệ nhưng không quá 03 năm. Đối với hợp tác xã tạo việc làm, thành viên không làm việc trong thời gian liên tục theo quy định của điều lệ nhưng không quá 02 năm;

g) Tại thời điểm cam kết góp đủ vốn, thành viên, hợp tác xã thành viên không góp vốn hoặc góp vốn thấp hơn vốn góp tối thiểu quy định trong điều lệ;

h) Trường hợp khác do điều lệ quy định.

Ngoài ra Khoản 2 Điều 16 Luật hợp tác xã quy định về thẩm quyền quyết định việc hcấm dứt tư cách thành viên của hợp tác xã:

3. Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp tác xã:

Là thành viên thì phải có những quyền và nghĩa vụ cụ thể. Luật hợp tác xã 2012 đã quy định thành viên có quyền được yêu cầu hợp tác xã cung ứng sản phẩm, dịch vụ theo hợp đồng dịch vụ theo hợp đồng dịch vụ giữa các thành viên và hợp tác xã theo nguyên tắc bình đẳng giữa hai bên, cũng như những quyền lợi khác mà thành viên hợp tác xã có được. (Điều 14)

Đồng thời cũng quy định nghĩa vụ của thành viên phải sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã theo hợp đồng dịch vụ giữa thành viên và hợp tác xã thành viên như: điểm b khoản 1 Điều 13 quy định về điều kiện trở thành thành viên, hợp tác xã tv là “Có nhu cầu hợp tác với các thành viên và nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã”; khoản 1 Điều 15 về nghĩa vụ của thành viên quy định “Sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo hợp đồng dịch vụ” Điều 16 quy định tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên bị chấm dứt trong trường hợp “thành viên, hợp tác xã thành viên không sử dụng sản phẩm, dịch vụ trong thời gian liên tục theo quy định cỷa điều lệ nhưng không quá 03 năm. Đối với hợp tác xã tạo việc làm, thành viên không làm việc trong thời gian liên tục theo quy định của điều lệ nhưng không quá 02 năm”.

Quy định nêu trên nhằm đảm bảo cho hoạt động hợp tác xã đúng bản chat là phục vụ thành viên, đồng thời hoạt động đúng theo nguyên tắc “cam kết kinh tế” thể hiện tính đối nhân sâu sắc, qua đó thành viên có trách nhiệm góp vốn, góp sức; phải sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho hợp tác xã và ngược lại hợp tác xã phải có trách nhiệm đáp ứng các yêu cầu trong sản xuất, kinh doanh đảm bảo đời sống của thành viên, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chung của các thành viên. Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp tác xã chính là điểm thể hiện rõ nét nhất bản chất đích thực của hợp tác xã phân biệt rạch ròi giữa hợp tác xã và dn. Đây là những quy định cần thiết để thể hiện tính đặc thù của nó, tránh trường hợp “đội lốt” hợp tác xã để được hưởng các ưu đãi nhưng thực chất lại hoạt động không khác gì dn.

4. Một số ý kiên đề xuất hoàn thiện quy chế pháp lý về thành viên hợp tác xã

Cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật hợp tác xã 2012. Tuy đã có nghị định hướng dẫn thi hành nhưng trong luật vẫn còn một số vấn đề cần phải được quy định cụ thể hơn nữa như chế độ kiểm toán fiao cho Chính phủ quy định nhưng vẫn chưa rõ về vâbs đề kiểm toán hàng năm hay thời gian bao lâu mới kiểm toán một lần; hoặc là các quy định về chế tài xử lý vi phạm pháp luật buông lỏng, chưa đủ sức răn đe thậm chí là chưa có khi hợp tác xã không tuân thủ pháp luật…

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến về Luật hợp tác xã 2012. Thực tế các hoạt động tuyên truyền đã diễn ra nhưng lại có quy mô nhỏ, đối tượng hạn chế.

Xây dựng cơ quan quản lý nhà nước thống nhất về hợp tác xã và triển khai chương trình phát triển hợp tác xã.