1.Khái niệm hộ gia đình là gì ?

Hộ gia đình chính là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình và đang chung sống trong một gia đình với nhau.

2.Gia đình và vị trí, vai trò của gia đình trong xã hội hiện đại

Gia đình là một tế bào cơ bản và tự nhiên cấu thành nên từng cộng đồng, xã hội. Gia đình giữ vai trò trung tâm trong đời sống của mỗi con người, là nơi bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của mỗi cá nhân, là một trong những giá trị xã hội quan trọng bậc nhất của người Á Đông, trong đó có Việt Nam. Đối với mỗi quốc gia thì gia đình được coi là “một tế bào xã hội có tính sản sinh”. Do vậy sức mạnh trường tồn của quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất nhiều vào sự tồn tại và phát triển của gia đình.”
Đối với sự phát triển của xã hội trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào, sự vững vàng bền bỉ của nền tảng gia đình cũng sẽ là yếu tố quyết định đến sự giàu mạnh, thịnh vượng của đất nước. Cho nên, việc quan tâm coi trọng đến yếu tố gia đình chính là hướng đi đúng đắn cho việc tạo dựng một xã hội phát triển ổn định và bền vững. Điều này càng thấy rõ khi chúng ta nhìn nhận đầy đủ vị trí, vai trò, chức năng của gia đình trong xã hội hiện nay. Đúng như C.Mác đã nói: “…hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi, nảy nở – đó là quan hệ giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái, đó là gia đình”. Cho nên yếu tố huyết thống và tình cảm là nét bản chất nhất của gia đình. Nhưng, xét rộng hơn và đầy đủ hơn, gia đình không chỉ là một đơn vị tình cảm – tâm lý, mà còn là một tổ chức kinh tế – tiêu dùng, một môi trường giáo dục – văn hóa, một cơ cấu – thiết chế xã hội đặc biệt. Với tất cả những đặc biệt đó, cho thấy gia đình có một vị trí vai trò cực kỳ quan trọng trong sự phát triển của xã hội nói chung.
Gia đình là “tế bào của xã hội”. Điều này chúng ta luôn luôn khẳng định và dù trong hoàn cảnh nào, xã hội nào nó vẫn luôn luôn đúng. Nó nói lên mối quan hệ mật thiết giữa gia đình và xã hội, quan hệ đó giống như sự tương tác hữu cơ của quá trình trao đổi chất, duy trì sự sống của cơ thể. Xã hội (cơ thể) lành mạnh tạo điều kiện cho các gia đình tiến bộ, gia đình (tế bào) hạnh phúc góp phần cho sự phát triển hài hòa của xã hội.
Trong mối quan hệ ấy, trình độ phát triển về mọi mặt của xã hội quyết định đến hình thức, tính chất, kết cấu và quy mô của gia đình. C.Mác nhiều lần lưu ý rằng: tôn giáo, gia đình, nhà nước, pháp quyền, đạo đức, khoa học, nghệ thuật…chỉ là những hình thức đặc thù của sản xuất và phục tùng quy luật chung của sản xuất. Và thực tế cũng cho ta thấy, gia đình lần lượt biến đổi tương ứng với những giai đoạn phát triển xã hội khác nhau.
Gia đình là cầu nối giữa mọi thành viên trong gia đình với xã hội. Nhiều thông tin về xã hội tác động đến con người thông qua gia đình. Xã hội nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn về một người khi nhận rõ hoàn cảnh gia đình của người ấy. Nhiều nội dung quản lý xã hội không chỉ thông qua hoạt động của các thiết chế xã hội, mà còn thông qua hoạt động của gia đình để tác động đến con người; nghĩa vụ và quyền lợi xã hội của mỗi người được thực hiện với sự hợp tác chung của các thành viên trong gia đình. Qua đó ý thức công dân được nâng cao và sự gắn bó giữa gia đình và xã hội có ý nghĩa thiết thực.
Gia đình là tổ ấm thân yêu đem lại hạnh phúc cho mỗi con người. Trong gia đình, mỗi cá nhân được đùm bọc về mặt vật chất và giáo dục về tâm hồn; trẻ thơ có điều kiện được an toàn và khôn lớn, người già có nơi nương tựa, người lao động có điều kiện để phục hồi sức khỏe và thoải mái tinh thần…Ở đó, hàng ngày diễn ra các mối quan hệ thiêng liêng giữa vợ – chồng, cha – con, anh – em,…những người đồng tâm, đồng cảm, nâng đỡ nhau suốt cả cuộc đời. Khi đó, gia đình thực sự là một tổ ấm thực sự của mỗi con người.
Gia đình là nơi cung cấp nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay ngày càng đòi hỏi trình độ và yêu cầu cao, đó phải là những người “giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống có văn hóa, nghĩa tình; có tinh thần quốc tế chân chính”. Gia đình chính “là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách” để hình thành nên những phẩm chất tốt đẹp của mỗi cá nhân, mỗi con người, góp phần đắc lực vào chiến lược phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Gia đình là nơi nuôi dưỡng, bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt Nam được hình thành và phát triển với những chuẩn mực giá trị tốt đẹp, góp phần xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc. Những giá trị truyền thống quý báu như lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, thủy chung, hiếu nghĩa, hiếu học, cần cù và sáng tạo trong lao động, bất khuất kiên cường vượt qua mọi khó khăn thử thách đã được gia đình Việt Nam gìn giữ, vun đắp trong suốt quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc và phát huy trong giai đoạn hiện nay.

3.Quy định chung về hợp đồng bảo đảm liên quan đến hộ gia đình

Ngoài một số vấn đề giao dịch bảo đảm chung mà chủ thể hợp đồng bảo đảm có yếu tô" là tổ chức không phải là pháp nhân như nêu trên, còn một sô vấn đề khác về giao dịch bảo đảm liên quan đến hộ gia đình. Giao dịch bảo đảm với hộ gia đình là một vấn đề pháp lý rất phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro.

Hộ gia đình đã bắt đầu được đề cập trong pháp luật từ năm 1964, là một trong những chủ thể của quan hệ dân sự trong hai Bộ luật Dân sự năm 1995 và 2005. Đến thời điểm giữa năm 2017, hộ gia đỉnh đang được ghi nhận trong 48 đạo luật.

Kể cả trước đây khi hộ gia đình được xác định là chủ thể hay từ năm 2017 trở đi không còn là một chủ thể của quan hệ dân sự, thì vấn đề quan trọng nhất vẫn là phải xác định được các thành viên của hộ gia đình. Đáng tiếc, vấn đề mấu chốt này lại là một điều thách đô', nguy hiểm và nhức nhốĩ trên thực tế trong suốt mấy chục năm qua, vì không có căn cứ pháp lý để khẳng định những người nào là thành viên của hộ gia đình. Dù được quy định trong nhiều đạo luật, nhưng lại không thể xác định cụ thể, chính xác về cơ sở pháp lý thế nào là hộ gia đình (thành viên nào, thời điểm xác định và quan hệ giữa thành viên với tài sản của hộ gia đình). Việc này đã dẫn đến nhiều rắc rối pháp lý trên thực tế, nhất là đối với giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất (cũng như nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) khi thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình nhưng lại không thể biết được rằng phải có sự đồng ý của những ai. Nếu một pháp nhân vổi hàng nghìn thành viên, thì đã có quy định rõ ràng xác định về thẩm quyền, thủ tục, tỷ lệ thông qua giao dịch hợp pháp, còn hộ gia đình thì giao dịch lại đòi hỏi tất cả thành viên đồng ý, mà điểm mấu chốt thì lại không có căn cứ pháp lý để xác định những ai là thành viên hộ gia đình. Vì vậy, có thể ví hộ gia đình như một chủ thể pháp lý ảo.

Đốì với tài sản của hộ gia đình là quyền sử dụng đất và những tài sản khác có giấy chứng nhận quyền sở hữu, thì đương nhiên phải có sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu như đã được quy định trong Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Hôn nhân và gia đình, chứ chủ hộ gia đình không có vai trò đại diện hay quyết định thay cho các thành viên khác của hộ gia đình.

Nếu như pháp luật quy định việc ghi rõ họ tên của tất cả những người có quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thay vì chỉ ghi tên chủ hộ là một hoặc hai vợ chồng trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất như lâu nay, thì sẽ rất rõ ràng và tránh được những hậu quả pháp lý vô cùng rắc rối, phức tạp và nguy hại, đã, đang và sẽ xảy ra trong nhiều chục năm nữa.

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ 15 tuổi trồ lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên đồng ý”1 và pháp luật đất đai quy định: “Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng chung của hộ gia đình phải được tất cả các thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự trong hộ gia đình đó thống nhất và ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự”. Như vậy, nếu một hoặc một số thành viên của hộ gia đình không thể hiện ý chí trong việc đưa tài sản vào cầm cố, thế chấp thì nguy cơ hợp đồng bảo đảm bị Toà án tuyên vô hiệu toàn bộ là rất cao, cho dù đã được công chứng và đăng ký thế chấp đúng quy định.

4. Ví dụ về vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng

Xin lấy một ví dụ về vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng ký ngày 03/01/2007 giữa bà Nguyễn Thị c. và con trai là anh Nguyễn Công M. tại thành phô Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long vay 100 triệu đồng của Ngân hàng p.. Tài sản thế chấp là căn nhà cấp 4 diện tích 120 m2 trên diện tích 142,7 m2 đất vườn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị C.

Bản án sơ thẩm số 42/KDTM-ST ngày 22/9/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu một phần vì thiếu chữ ký của ông Nguyễn Công T. là chồng đã ly hôn với bà c. từ năm 2007.

Theo kháng nghị giám đốc thẩm ngày 20/6/2014 của Chánh án Toà án nhân dân tốĩ cao, Toà kinh tế Toà án nhân dân tốì cao đã hủy Bản án sơ thẩm và giao lại cho Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử lại theo hướng, xác định hợp đồng thế chấp vô hiệu toàn bộ, vì không đủ chữ ký của tất cả các thành viên hộ gia đình từ đủ 15 tuổi trở lên.

Do vậy, để bảo đảm về pháp lý, tránh nguy cơ bị vô hiệu, thì các tổ chức tín dụng nhận thế chấp và tổ chức hành nghề công chứng thường yêu cầu tất cả những người liên quan (càng nhiều người càng tốt) tham gia ký hợp đồng thế chấp. Nếu ai không ký vào hợp đồng thế chấp, thì ký vào giấy ủy quyền thế chấp. Nếu ai không ký vào giấy ủy quyền thế chấp, thì ký văn bản cam kết không liên quan, không khiếu nại, thắc mắc gì.

Tóm lại, Bộ luật Dân sự năm 2005 yêu cầu phải có tất cả mọi thành viên của hộ gia đình từ ngưòi giúp việc cho đến người ồ nhờ đã được đăng ký vào sổ hộ khẩu, từ người trưởng thành cho đến con cháu chưa thành niên, từ người đang sinh sống trong nưổc, cho đến người đã ra cư trú tại nước ngoài, từ ngưồi còn sống cho đến ngưòi đã chết (tìm ngưòi thừa kế ký thay).

5. Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong thực hiện biện pháp bảo đảm

Điều 4 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định việc áp dụng pháp luật và thỏa thuận về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ:

- Trường hợp pháp luật về đất đai, nhà ở, đầu tư, doanh nghiệp, chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng, tài nguyên thiên nhiên, thủy sản, lâm nghiệp, hàng không, hàng hải, sở hữu trí tuệ, khoa học và công nghệ hoặc lĩnh vực khác có quy định đặc thù về tài sản bảo đảm, xác lập, thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc xử lý tài sản bảo đảm thì áp dụng quy định đặc thù đó.

Trường hợp bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm hoặc người có nghĩa vụ được bảo đảm bị tuyên bố phá sản thì việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản, xử lý khoản nợ có bảo đảm và các biện pháp bảo toàn tài sản áp dụng theo quy định của pháp luật về phá sản.

- Trường hợp các bên trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có thỏa thuận khác với quy định tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP mà phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, không vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, không vi phạm giới hạn việc thực hiện quyền dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan thì thực hiện theo thỏa thuận của các bên.

- Trường hợp chủ sở hữu tài sản và bên nhận bảo đảm thỏa thuận dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác thì áp dụng quy định về cầm cố tài sản, thế chấp tài sản.

- Trường hợp thỏa thuận có nội dung về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhưng các bên không xác định rõ hoặc xác định không chính xác tên biện pháp bảo đảm mà nội dung thỏa thuận phù hợp với biện pháp bảo đảm quy định tại Bộ luật Dân sự thì áp dụng quy định về biện pháp bảo đảm tương ứng với nội dung thỏa thuận này.