1.Khái niệm gán nợ là gì ?

Gán nợ là Chuyển nghĩa vụ trả nợ của mình đối với người thứ ba sang người có nợ mình hay chuyển giao quyền đòi nợ của mình đối với người thứ ba sang cho người mà mình đang nợ. Được hiểu là người có nghĩa vụ trả nợ dùng tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với bên kia. Tài sản để thực hiện nghĩa vụ trả nợ phải có giá trị tương đương với nợ mà người đó phải thực hiện, nếu không các bên phải thanh toán phần chênh lệch , trừ trường hợp các bên không có quy định khác.

2. Thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm như sau:

Bên nhận bảo đảm được quyền nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm nếu có thỏa thuận khi xác lập giao dịch bảo đảm;

Trường hợp không có thỏa thuận từ khi xác lập giao dịch bảo đảm thì bên nhận bảo đảm chỉ được nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ khi bên bảo đảm đồng ý bằng văn bản;

Trong trường hợp bên nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ, bên bảo đảm có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên nhận bảo đảm theo quy định của pháp luật. Bên nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ phải xuất trình văn bản chứng minh quyền được xử lý tài sản bảo đảm và kết quả xử lý tài sản bảo đảm cho cơ quan nhà nưốc có thẩm quyền khi chuyển quyền số hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm;

Trường hợp giá trị của tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm phải thanh toán số tiền chênh lệch đó cho bên bảo đảm; trường hợp giá trị tài sản bảo đảm nhỏ hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán trở thành nghĩa vụ không có bảo đảm. Các bên có quyền tự thỏa thuận hoặc thông qua tổ chức có chức năng thẩm định giá tài sản để có cơ sở xác định giá trị của tài sản bảo đảm

3. Thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm 

Trong trường hợp bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có thỏa thuận về việc xử lý tài sản bảo đảm theo phương thức nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm thì thực hiện như sau:

Bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm thỏa thuận về giá bán tài sản bảo đảm bằng văn bản. Trong trường hợp không thỏa thuận được giá bán tài sản thì bên bảo đảm có quyền chỉ định tổ chức có chức năng thẩm định giá để xác định giá bán tài sản trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày không thỏa thuận được giá bán. Sau thời hạn 15 ngày, nếu bên bảo đảm không chỉ định tổ chức có chức năng thẩm định giá thì bên nhận bảo đảm có quyền chỉ định tổ chức có chức năng thẩm định giá để xác định giá bán tài sản. Chi phí thuê tổ chức có chức năng thẩm định giá được tính vào chi phí xử lý tài sản bảo đảm;

Trường hợp tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, sau khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm có trách nhiệm nộp hồ sơ chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng. Hợp đồng bảo đảm hoặc văn bản thỏa thuận khác về việc nhận chính tài sản bảo đảm để thay thê cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm được sử dụng thay thế cho hợp đồng, giấy tờ, tài liệu chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bảo đảm;

Trường hợp tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, sau khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm có quyền sở hữu đối với tài sản đó;

Giá trị của tài sản bảo đảm được bù trừ vào số tiền vay, tiền lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng và các chi phí hợp lý khác theo quy định của pháp luật. Bên bảo đảm được nhận số tiền còn lại sau khi đã thanh toán đầy đủ nghĩa vụ cho bên nhận bảo đảm. Trường hợp giá trị của tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán giá trị nghĩa vụ thì bên bảo đảm có trách nhiệm hoàn trả số tiền còn thiếu cho bên nhận bảo đảm nếu bên bảo đảm đồng thời là bên có nghĩa vụ được bảo đảm hoặc bên có nghĩa vụ được bảo đảm phải hoàn trả số tiền còn thiếu cho bên nhận bảo đảm nếu bên bảo đảm không đồng thời là bên có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

Trường hợp bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm nhưng không thuộc đối tượng được xác lập quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản theo quy định của pháp luật thì bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận lựa chọn phương thức xử lý tài sản bảo đảm khác.

Đối với các tổ chức tín dụng, trong trường hợp nhận chính tài sản bảo đảm là bất động sản để thay thế cho nghĩa vụ trả nợ thì việc mua, đầu tư, sở hữu tài sản cố định để sử dụng làm trụ sở kinh doanh, địa điểm làm việc hoặc cơ sở kho tàng phục vụ trực tiếp cho các hoạt động nghiệp vụ không quá 50% vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ đối với tổ chức tín dụng hoặc không quá 50% vốn được cấp và quỹ dự trữ bổ sung vốh được cấp đối với chi nhánh ngân hàng nưốc ngoài.

Việc nhận gán nợ này khác với việc các tổ chức tín dụng được quyền “nắm giữ bất động sản do việc xử lý nợ vay” theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng. Theo đó, các tổ chức tín dụng được và được nắm giữ bất động sản do việc xử lý nợ vay trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày quyết định xử lý tài sản bảo đảm là bất động sản. Sau thời điểm này, tổ chức tín dụng phải bán, chuyển nhượng hoặc mua lại bất động sản này để bảo đảm không vượt quá tỷ lệ đầu tư vào tài sản cố định và mục đích sử dụng tài sản cố định. 

4. Việc giao tài sản bảo đảm để xử lý

Điều 301 Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định quyền thu giữ tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm và chỉ quy định trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Đây là một “bước lùi” về quyền của bên nhận bảo đảm trong pháp luật về giao dịch bảo đảm. Bởi lẽ, khi nhận bảo đảm, bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảmĐ nếu phát sinh vi phạm của bên có nghĩa vụ và quyền xử lý tài sản này bao gồm cả quyền thu giữ tài sản bảo đảm. Đây là quyền đương nhiên của bên nhận bảo đảm, thiếu quyền này việc xử lý tài sản không khả thi.
Ngoài ra, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng không cho phép bên nhận bảo đảm khả năng tìm kiếm sự hỗ trợ của các cơ quan công quyền (Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và cơ quan Công an) trong việc thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý trong khi thực tiễn cho thấy, bên nhận bảo đảm (đặc biệt là các ngân hàng thương mại) triển khai khá hiệu quả cơ chế này.
Ở một số nước trên thế giới, thu giữ tài sản bảo đảmlà quyền cơ bản của bên nhận bảo đảm trong xử lý tài sản bảo đảm. Ví dụ, thông qua UCC, các đạo luật và án lệ, Mỹ xây dựng một cơ chế rất hiệu quả để chủ nợ có bảo đảm xử lý tài sản bảo đảmmà không phải khởi kiện ra tòa án, đồng thời cũng bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người bảo đảm cũng như các chủ thể có liên quan khác.

5. Quy định chung về nhận tài sản bảo đảm gán nợ

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, bên nhận bảo đảm được quyền nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm nếu có thỏa thuận khi xác lập giao dịch bảo đảm. Bên bảo đảm có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên nhận bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Theo đó, việc nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho nghĩa vụ trả nợ (nhận gán nợ) là việc chuyển quyền sở hữu tài sản (quyền sử dụng đất) bảo đảm từ bên bảo đảm sang bên nhận bảo đảm.

Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định, trường hợp bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm thỏa thuận về xử lý tài sản bảo đảm theo phương thức bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm được xác lập quyền sở hữu theo quy định tại Điều 223 về “Xác lập quyền sở hữu theo hợp đồng” của Bộ luật Dân sự. Trong trường hợp này, bên nhận bảo đảm phải cung cấp hợp đồng bảo đảm hoặc văn bản khác có thỏa thuận về việc mình có quyền được nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm, Giấy chứng nhận về tài sản bảo đảm (nếu có) cho cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật liên quan.

Phương thức xử lý tài sản bảo phương thức xử lý tài sản bảo đảm. Một trong các phương thức xử lý tài sản bảo đảmlà bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm (gán nợ). Vậy, bên bảo đảm ở đây phải đồng thời là bên có nghĩa vụ. Do đó, phương thức xử lý bảo đảm theo thỏa thuận này không áp dụng cho trường hợp một bên thế chấp hay cầm cố tài sản của mình để bảo đảm cho một bên khác vay vốn tại ngân hàng.
Trong trường hợp này, các bên cần quy định các phương thức xử lý tài sản bảo đảmkhác. Trong khi đó, khoản 1 Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “tài sản bảo đảm phải thuộc sở hữu của bên bảo đảm”. Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 không khẳng định bên bảo đảm phải là bên có nghĩa vụ
Do đó, bên thứ ba có thể bảo đảm bằng tài sản để thực hiện nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ. Từ đây cho thấy, không có lý do gì mà lại hạn chế quyền của chủ nợ đối với tài sản bảo đảm là tài sản của bên thứ ba để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Vì vậy, cần sửa đổi BLDS theo hướng cho phép sự thỏa thuận về phương thức “gán nợ” đối với cả tài sản của bên thứ ba khi đưa ra bảo đảm.