1. Lỗi vô ý phạm tội được quy định như thế nào?

Tình huống: Thưa Luật sư Công ty Luật Minh Khuê, một người phạm tội với lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý là như thế nào ạ?

Cảm ơn Luật sư!

 

Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi tới Công ty Luật Minh Khuê, chúng tôi xin đưa ra ý kiến tư vấn như sau:

Thứ nhất, cơ sở pháp lý

Lỗi cố ý và vô ý phạm tội được quy định cụ thể tại hai Điều, Điều 10 và Điều 11 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:

"Điều 10. Cố ý phạm tội

Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;

2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Điều 11. Vô ý phạm tội

Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;

2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó."

Mặc dù tội phạm tuy có chung các dấu hiệu nhưng những hành vi phạm tội cụ thể sẽ có tính nguy hiểm cho xã hội là rất khác nhau. Sự khác nhau đó xuất phát từ nhiều cơ sở, có thể là do nguyên nhân, điều kiện phát sinh phạm tội, tính chất của khách thể bị xâm hại, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội...Trong đó phải kể đến một yếu tố hết sức quan trọng là yếu tố chủ quan. Bởi vì nó chính là cơ sở, là tiền đề cho việc triển khai và thực hiện có hiệu quả nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự, đảm bảo áp dụng hình phạt đạt hiệu quả cao nhất cho người phạm tội.

Theo như hai điều luật trên ta thấy:


Để phân loại lỗi, chúng ta cần xác định một tiêu chí thống nhất . Theo quy định của pháp luật chúng ta có thể căn cứ vào hai yếu tố, đó là: Yếu tố ý chí và yếu tố lý trí thực hiện hành vi phạm tội.

Khi căn cứ vào hai tiêu chí trên lỗi được phân ra làm 2 loại là: Lỗi cố ý và lỗi vô ý. Cũng trên cơ sở ý chí và lý trí của chủ thể vi phạm pháp luật mà khoa học pháp lý cũng phân biệt lỗi cố ý gồm 2 hình thức: Lỗi cố ý trực tiếplỗi cố ý gián tiếp. Lỗi vô ý cũng có 2 hình thức: Lỗi vô ý vì quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả của người phạm tội.

- Lỗi cố ý theo Điều 10 Luật này gồm có Lỗi cố ý trực tiếp và gián tiếp.

+ Lỗi cố ý trực tiếp: Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là có tính nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó nhưng mà người phạm tội lại mong muốn hậu quả xấu đó xảy ra.
Ví dụ: A thấy B đi uống rượu nhưng trong lúc uống rượu thì lại nảy sinh mâu thuẫn với D, A về nhà lấy dao ra quán tìm D và chém liên tiếp vào D dẫn đến D chết. Như vậy A nhận thấy rõ hành vi nguy hiểm và thấy trước hậu quả của mình rằng mình chém D thì D sẽ chết hoặc bị thương, nhưng A vẫn thực hiện và vẫn mong muốn hậu quả này xảy ra.
+ Lỗi cố ý gián tiếp: Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Ví dụ: Vườn nho Mỹ nhà A hay bị trộm lẻn vào hái, A mặc dù đã xây tường cao kín nhưng không làm được gì khả quan hơn, vậy là A giăng bẫy điện quanh tường rào vườn nho để chống trộm nho. Không may nửa đêm mưa to và gió lớn làm cho dây điện A bẫy bị rơi xuống, con Chị B đi chơ về sợ mẹ mắng mà không bật đèn qua đó nhưng không biết nên ngang qua bờ tường bị điện giật chết.
Với tình huống này mặc dù A đã thấy trước hậu quả xảy ra, không mong muốn hậu quả là con chị B chết nhưng vẫn có ý thức để mặc nửa đêm hay buổi sáng thì A vẫn để quanh dây điện ở đó.
- Lỗi vô ý theo Điều 11 Luật này gồm có vô ý vì quá tự tin và vô ý do cẩu thả
+ Lỗi vô ý vì quá tự tin: Lỗi vô ý vì quả tự tin là lỗi trong trường hợp mà người phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc bản thân mình có thể ngăn ngừa được nên vẫn thực hiện và đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
Ví dụ: F vì quá tự tin với khả năng lái xe của mình nên khi thấy một người đang qua đường và một chiếc ô tô đi đằng trước khoảng cách rất hẹp không đủ cho xe máy đi qua. Nhưng vì tự tin nên F vẫn cố vượt lên trước dẫn tới hậu quả do lệch tay lái nên F đã đâm vào người qua đường.
Vậy trường hợp này F đã thấy trước hậu quả có thể xảy ra nhưng F vẫn một mực thực hiện hành vi nguy hiểm này và tin rằng không xảy ra.

+ Lỗi vô ý do cẩu thả: Người thực hiện hành vi phạm tội không thấy trước hậu quả nguy hiểm, hoặc phải thấy trước hậu quả nguy hiểm, có thể thấy trước hậu quả.
 

2. Xác định lỗi của người phạm tội

Trường hợp một người tên B đi xe máy ngược do vội đi đón con tan học óng đi với tốc đọ nhanh cho nên B cũng phdo đường khuất nên không nhìn thấy xe đi chiều ngược lại, B đã va quẹt vào C đi xe máy và khiến C chết, B thuộc về lỗi vô ý hay cố ý ạ?

Hành vi đi xe máy ngược chiều của B đã gây tai nạn làm cho nạn nhân khiến cho nạn nhân chết.

Căn cứ quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), B phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như sau:

"Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

"1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;..."

 

Lỗi của B vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ là lỗi vô ý. Bởi vì B đã có con (tức là có đủ năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ) và cũng biết được rằng pháp luật quy định không cho đi ngược chiều, hơn nữa B còn phóng đi với tốc đọ nhanh, khi đi ngược chiều mà phóng nhanh vượt ẩu hành vi đó rất nguy hiểm cho cả bản thân B và cũng như ảnh hưởng rất lớn đến người khác. Cuối cùng B đam phải C và khiến C chết.

Theo Điều 11 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về vô ý phạm tội như sau:

Điều 11. Vô ý phạm tội

Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;

2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.”.

Ngoài ra, khi B đã gây cho C chết, B còn phải bồi thường thiệt hại cho C theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 cũng như quy định pháp luật khác có liên quan.

 

3. Lỗi cố ý phạm tội theo quy định của Bộ Luật hình sự

- Cơ sở pháp lý: Lỗi vô ý phạm tội được quy định cụ thể tại Điều 11 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:

"Điều 11. Vô ý phạm tội

Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;

2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó."

Với Điều 11 có 2 khoản và cũng tương ứng với hai lỗi vô ý: Vô ý vì quá tự tin và lỗi vô ý vì cẩu thả.

Thứ nhất, theo khoản 1 Điều luật này lỗi vô ý có thể phân tích theo hai tiêu chí sau"

- Về lý trí người phạm tội: Người phạm tội nhận thức được tính gây thiệt hại cho xã hội của hành vi của mình và thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội... ”. Đồng thời người phạm tội lại cho rằng hậu quả đó không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được. Rõ ràng rằng sự thấy trước hậu quả thiệt hại ở đây thực chất chỉ là sự cân nhắc của người phạm tội đến khả năng hậu quả xảy ra hoặc không xảy ra và kết quả người phạm tội đã loại trừ khả năng hậu quả thiệt hại xảy ra và luôn tin rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra.

Đối với người phạm tội với lỗi vô ý vì quá tự tin, khả năng hậu quả thiệt hại xảy ra hoặc không xảy ra đều là khả năng trên thực tế. Tuy nhiên người phạm tội đã tin vào khả năng rằng hậu quả thiệt hại không xảy ra sau khi người phạm tội đã cân nhắc, tính toán. Với sự cân nhắc, tính toán người phạm tội có thể dựa trên các căn cứ nhất định như tin tưởng vào sự khéo léo, mức đọ tin cậy vào bản thân cao, sự hiểu biết, kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ kĩ thuật của mình hoặc tin vào những tình tiết khách quan bên ngoài khác.

Ví dụ chứng minh: Người lái xe phóng nhanh vượt ẩu (vượt quá tốc độ cho phép theo quy định của pháp luật) luôn tin rằng tay lái của mình chắc chắn, không bao giờ gây ra tai nạn hay nguy hiểm cho người khác. Với ví dụ này mặc dù sự tin tưởng này của người phạm tội tuy có căn cứ nhưng căn cứ đó không bao giờ là có điều chắc chắn. Bởi vì người phạm tội đã không đánh giá đúng tình hình thực tế, xem xem tình hình thực tế như thế nào. Sự tin tưởng của họ là sự tin tưởng quá mức so với thực tế đang xảy ra.

Khi một người phạm tội với lỗi vô ý vì quá tự tin do không thận trọng khi đánh giá, lựa chọn xử sự điều đó chắc chắn sẽ gây ra hậu quả thiệt hại cho xã hội.


- Về ý chí người phạm tội: Người phạm tội không mong muốn hành vi của mình gây ra hậu quả thiệt hại cho người khác cũng như gây thiệt hại cho xã hội nói chung. Tuy nhiên sự không mong muốn này có điểm khác so với sự không mong muốn ở trường hợp có lỗi cố ý gián tiếp được quy định tại khoản 2 Điều 10 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bởi vì nếu ở trường hợp có lỗi cố ý gián tiếp, người phạm tội không mong muốn nhưng đã chấp nhận khả năng hậu quả thiệt hại xảy ra khi lựa chọn và thực hiện hành vi phạm tội thì ở trường hợp có lỗi vô ý vì quá tự tin, sự không mong muốn hậu quả thiệt hại của người phạm tội gắn liền với việc người đó đã loại trừ khả năng hậu quả thiệt hại xảy ra. Người phạm tội với lỗi vô ý vì quá tự tin đã cân nhắc, tính toán và cho rằng hậu quả thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

Thứ hai,lỗi vô ý do cẩu thả theo khoản 2 Điều 11 Bộ luật này ta có thể thấy gồm hai dấu hiệu

- Dấu hiệu thứ nhất: Người phạm tội không thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội (hậu quả thiệt hại) mà hành vi của mình đã gây ra.
Dấu hiệu thứ nhất là dấu hiệu cho phép phân biệt trường hợp người phạm tội có lỗi vô ý vì cẩu thả với các trường hợp có lỗi khác.
Ở các trường hợp có lỗi vô ý vì quá tự tin vừa phân tích ở trên, người phạm tội thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả thiệt hại, tuy mức độ thấy trước nó là khác nhau. Thì trong trường hợp có lỗi vô ý vì cẩu thả, người phạm tội không thấy trước hậu quả thiệt hại do hành vi của mình gây ra.

Việc người phạm tội không thấy trước hậu quả thiệt hại của hành vi của mình có thể xảy ra có thể theo những khả năng sau:
+ Người phạm tội không nhận thức được mặt thực tế do hành vi của mình gây ra và như vậy cũng không nhận thức được khả năng gây hậu quả thiệt hại do hành vi của mình.

Ví dụ chứng minh: Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự theo khoản 1 Điều 406 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).


+ Người phạm tội tuy nhận thức được mặt thực tể của hành vi của mình nhưng lại hoàn toàn không nhận thức được khả năng gây hậu quả thiệt hại của hành vi của mình (hoàn toàn không nghĩ đến khả năng hậu quả xảy ra).

Ví dụ: Hút thuốc lá xong không nhớ gạt tàn mà để tàn thuốc lá gần chỗ bơm xăng cá nhân dẫn đến nổ.


- Về dấu hiệu thứ hai: Người phạm tội phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả thiệt hại. Đây là dấu hiệu cho phép phân biệt trường hợp có lỗi vô ý vì cẩu thả của người phạm tội với trường hợp không có lỗi.
Người phạm tội trong trường hợp có lỗi vô ý vì cẩu thả có nghĩa vụ phải thấy trước và có đủ điều kiện để có thể thấy trước hậu quả thiệt hại của hành vi của mình. Điều này xuất phát từ trách nhiệm cụ thể của cá nhân và hoàn cảnh. Người phạm tội không thấy trước hậu quả thiệt hại của hành vi của mình chỉ vì sự cẩu thả, thiếu sự thận trọng cần thiết của chính họ. Lỗi của người phạm tội là ở chỗ đã cẩu thả, đã thiếu thận trọng khi xử sự.

 

4. Xác định tội danh và hình phạt cho người phạm tội

Tình huống: H là Công an giao thông, đang làm nhiệm vụ ở ngoài đường thì thấy A cướp giật túi xách chị B (tài sản và túi xách chị trá 10.000.000 đồng Vn, Công an H đã lên xe và phi xe đuổi thằng A cướp giật túi xách chị B. Trong quá trình đuổi do phóng nhanh và đường cua, A đã vượt trước gốc khuất, H đuổi theo thì không may cháu N (15 tuổi) đang chạy qua đường dẫn đến H lao đến và đâm chết cháu N.

Vậy Công an H bị xử lý như thế nào?

Mình cảm ơn!

Trả lời:

Theo như tình huống bạn cung cấp, Công an H sẽ bị xử lý hình sự theo Điều 127 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017)

Cụ thể Điều 127 Bộ luật quy định như sau:

"Điều 127. Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ

1. Người nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết người do dùng vũ lực ngoài những trường hợp pháp luật cho phép, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Trong trường hợp này anh H đang đuổi thằng A cướp túi xách chị B và không may Anh H lao vào cháu N khiến cháu N chết, vậy trong khi thi hành công vụ anh H gây ra hậu quả cháu N chết, anh H sẽ chịu trách nhiệm hình sự theo Điều luật này.

 

5. Tội vô ý làm chết người được biểu hiện như thế nào?

- Cơ sở pháp lý: Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

"Điều 128. Tội vô ý làm chết người

1. Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm."

Vô ý làm chết người được hiểu là trường hợp người phạm tội thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả làm chết người nhưng người phạm tội lại tin rằng hậu quả đó không xảy ra hoặc không thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây hậu quả chết người mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

- Cấu thành tội phạm của tội vô ý làm chết người

+ Chủ thể: Bất kỳ cá nhân nào đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

+ Khách thể: Tác động, xâm hại đến quyền sống của con người.

+ Mặt chủ quan: Người thực hiện hành vi phạm tội thực hiện hành vi của mình lỗi vô ý, có thể là lỗi vô ý do cẩu thả hoặc vô ý do quá tự tin theo quy định tại Điều 11 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Điều 11. Vô ý phạm tội

Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;

2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

+ Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi vô ý làm chết người được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc đối với tội vô ý làm chết người của người phạm tội.

- Các khung hình phạt của tội vô ý làm chết người:

Theo quy định của tội Vô ý làm chết người tại Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định:

“Điều 128. Tội vô ý làm chết người

  1. Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
  2. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

Căn cứ vào Điều luật trên nếu bị truy cứu và bị tuyên án với tội danh vô ý làm chết người thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

 

Trân trọng!