1. Khái niệm thi hành án hình sự

Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối nhằm bảo đảm để trách nhiệm hình sự của người phạm tội được hiện thực hóa trong đời sống, xã hội. Bản án, quyết định của Tòa án chỉ có thể được đảm bảo khi tổ chức tốt việc thi hành án, thông qua đó bản án mới có ý nghĩa, công lý, quyền con người mới được được bảo vệ, trật tự pháp luật được duy trì. Thi hành án hình sự là việc tổ chức triển khai thực hiện phán quyết đã có hiệu lực của Tòa án trong thực tế và là việc thi hành các hình phạt cáp dụng đối với người phạm tội do tòa án tuyên, do đó, ngoài người phạm tội với tư cách là người chấp hành hình phạt còn có cơ quan, người có thẩm quyền thi hành án và cơ quan quản lý thi hành án tham gia vào giai đoạn thi hành án hình sự với những hoạt động khác nhau.

Từ những phân tích nêu trên có thể định nghĩa: “Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết vụ án hình sự, thể hiện ở việc các cơ quan, tổ chức và cá nhân hữu quan có trách nhiệm hiện thực hóa bản án, quyết định của Tòa án nhằm bảo vệ công lý, quyền con người và trật tự xã hội chủ nghĩa”.

2. Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thi hành án hình sự

2.1 Bản án, quyết định được thi hành ngay

Đây là những loại bản án, quyết định không cần phải trải qua một thời hạn nào đó để phát sinh hiệu lực pháp luật hay phải chờ cho đến khi có quyết định thi hành án của Tòa án.

Điều 363 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về hai loại bản án, quyết định được thi hành ngay mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị.

- Loại bản án, quyết định thuộc trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm đưa ra các quyết định:

+ Quyết định đình chỉ vụ án;

+ Quyết định tuy bị cáo không có tội;

+ Quyết định miễn trách nhiệm hình sự;

+ Quyết định tuyên miễn hình phạt cho bị cáo;

+ Tuyên hình phạt không phải là hình phạt tù;

+ Tuyên hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo;

+ Tuyên phạt tù nhưng thời hạn phạt tù ngắn hơn thời hạn tạm giam.

- Loại bản ám tuyên hình phạt cảnh cáo, vì bản án này sẽ được thi hành ngay tại phiên tòa.

2.2 Thẩm quyền và thủ tục ra quyết định thi hành án

Điều 364 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định chủ thể có quyền ra quyết định thi hành án là Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Chánh án Tòa án khác cùng cấp trong trường hợp được ủy thác ra quyết định thi hành án.

Thời hạn ra quyết định thi hành án hình sự là 7 ngày tính từ các thời điểm thuộc các trường hợp như sau:

- Nếu chủ thể ra quyết định thi hành án hình sự là Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm thì quyết định thi hành án phải được ban hành trong vòng 7 ngày kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm.

- Nếu trường hợp là ủy thác ra quyết định thi hành án thì Chánh án Tòa án được ủy thác phải ra quyết định thi hành án trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác thi hành của Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm.

2.3 Giải thích, sửa chữa và giải quyết kiến nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án

Quy định này là một quy định mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 theo đó cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát, người bị kết án, bị hại, đương sự liên quan đến việc thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ ràng trong bản án, quyết định để thi hành án.

Khi nhận được yêu cầu giải thích Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã ra bản án, quyết định có trách nhiệm giải thích, sữa chưa những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định của Tòa án. Nếu thẩm phán chủ tọa phiên tòa không thể thực hiện được việc giải thích thì việc giải thích, sửa chữa sẽ do Chánh án Tòa án đã ra bản án, quyết định đó thực hiện.

2.4 Thủ tục xem xét một bản án tử hình trước khi thi hành án

Tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống các hình phạt được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự của Việt Nam hiện nay, việc một bản án tử hình đưa ra thi hành án cần phải xem xét những vấn đề sau đây:

- Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi cho Chánh án tòa án nhân dân tối cao và bản án phải được gửi ngay cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Sau khi Tòa án nhân dân tối cao đã xem xét hồ sơ vụ án để quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì Tòa án nhân dân tối cao phải tiến hành chuyển hồ sơ của vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ từ Tòa án nhân dân tối cao thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao;

- Trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày nhận đực hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị theo thủ tục tái thẩm hoặc giám đốc thẩm;

- Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm Chủ tịch nước. Bản án tử hình sẽ được thi hành nếu Chánh án Tòa án nhân dân tố cao và Viện trường viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm và người bị kết án không có đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.

- Trường hợp người bị kết án có đơn xin ân giảm hình phạt tử hình thì bản án tử hình được thi hành sau khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm.

- Trong quá trình xem xét án tử hình, Chánh án tòa án đã xét xử sơ thẩm không ra quyết định thi hành án tử hình và báp cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để xem xét chuyển hình phạt tử hình sang hình phạt chung thân cho người bị kết án khi có một trong các căn cứ sau đây:

+ Người bị kết án là phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;

+ Người bị kết án đủ 75 tuổi trở lên;

+ Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

2.5 Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện

Tha tù trước thời hạn có điều kiện là biện pháp được Tòa án áp dụng đối với người đang chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật hình sự, xét thấy không cần buộc họ phải tiếp tục chấp hành án phạt tù tại cơ sở giam giữ. Đây được coi là một trong những biện pháp tha miễn thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước nhằm khuyến khích phạm nhân tích cực và quyết tâm cải tạo tốt trong các cơ sở giam giữ để sớm được đoàn tụ với gia đình, rời khỏi môi trường cách ly và tái hòa nhập xã hội.

Phạm nhân đang chấp hành án có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 66 Bộ luật hình sự năm 2015, cụ thể như sau:

Điều 66. Tha tù trước thời hạn có điều kiện

1. Người đang chấp hành án phạt tù có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Phạm tội lần đầu;

b) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;

c) Đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng trở lên;

d) Có nơi cư trú rõ ràng;

đ) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và các nghĩa vụ bồi thường dân sự;

e) Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức thời hạn tù đối với hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 15 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn.

Trường hợp người phạm tội là thương binh, bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì thời gian đã chấp hành ít nhất là một phần ba hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 12 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn;

g) Không thuộc một trong các trường hợp phạm tội quy định tại khoản 2 Điều này”.

Đồng thời khi được tha tù trước thời hạn thì người được tha tù trước thời hạn sẽ phải thực hiện các nghĩa vụ nhất định trong khoảng thời gian thử thách tương đương với khoảng thời gian còn lại của hình phạt tù, cụ thể như sau:

- Nếu người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính 2 lần trở lên thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đó và buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành;

- Nếu người đó thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án mới và tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước đó theo quy định về tổng hợp hình phạt.

2.6 Thủ tục xóa án tích

Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng tố tụng hình sự Việt Nam quy định chế định xóa án tích để chấm dứt hoàn toàn trách nhiệm hình sự của người bị kết án nhằm khuyến khích họ quyết tâm cải tạo để trở thành người lương thiện. Xóa án tích vừa là cơ hội vừa là động lực cho họ bắt đầu cuộc sống mới tốt đẹp hơn, vì sau khi được xóa án tích, tình trạng án tích của người bị kết án được ghi trong phiếu ly lịch tư pháp sẽ là không có án tích. Pháp luật hình sự hiện hành quy định hai trường hợp xóa án tích đó là trường hợp đương nhiên xóa án tích và trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án.

Luật Minh Khuê