1. Tìm hiểu quy định về nợ được Chính phủ bảo lãnh?

Theo quy định của Điều 3, Khoản 2 Luật Quản lý nợ công năm 2017, nợ được Chính phủ bảo lãnh được hiểu là những khoản nợ mà doanh nghiệp hoặc ngân hàng chính sách của Nhà nước vay mà Chính phủ cam kết đảm bảo.

- Để hiểu rõ hơn về khái niệm này, ta cần tìm hiểu về vai trò và chức năng của Chính phủ trong việc bảo lãnh nợ. Chính phủ được xem là người đại diện cho Nhà nước, có trách nhiệm quản lý và điều hành nền kinh tế quốc gia. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ là đảm bảo sự ổn định và an toàn cho hệ thống tài chính, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế.

- Nợ được Chính phủ bảo lãnh có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động tín dụng và đầu tư trong xã hội. Khi doanh nghiệp hoặc ngân hàng chính sách của Nhà nước cần vay một khoản tiền để thực hiện các dự án, mở rộng sản xuất, đầu tư vào các lĩnh vực có tiềm năng phát triển, họ có thể đề xuất Chính phủ bảo lãnh khoản nợ này.

- Việc Chính phủ cam kết đảm bảo cho nợ này mang lại nhiều lợi ích. Trước hết, nó giúp tăng cường niềm tin của các bên liên quan, bởi vì khi Chính phủ đứng ra bảo lãnh, người cho vay hoặc nhà đầu tư sẽ có sự an tâm hơn về khả năng trả nợ của doanh nghiệp hoặc ngân hàng chính sách. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn và tăng cường sự phát triển kinh tế.

- Ngoài ra, nợ được Chính phủ bảo lãnh cũng có thể giúp giảm rủi ro tài chính. Trong trường hợp doanh nghiệp hoặc ngân hàng chính sách không thể trả nợ, Chính phủ sẽ đảm bảo thay mặt và tránh được sự sụp đổ của hệ thống tài chính. Điều này giúp duy trì sự ổn định và an toàn của ngành tài chính, ngăn chặn những tác động tiêu cực tới kinh tế và xã hội.

- Theo khoản 2 Điều 4 Luật Quản lý nợ công 2017, để phân loại nợ được Chính phủ bảo lãnh, chúng ta cần xem xét các khoản nợ sau:

+ Nợ của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh: Đây là các khoản nợ mà các doanh nghiệp nhận được sự bảo lãnh từ Chính phủ. Thông thường, Chính phủ sẽ đảm bảo trách nhiệm thanh toán cho các khoản nợ này trong trường hợp doanh nghiệp không thể chi trả.

+ Nợ của ngân hàng chính sách của Nhà nước được Chính phủ bảo lãnh: Đây là các khoản nợ mà ngân hàng chính sách của Nhà nước nhận được sự bảo lãnh từ Chính phủ. Ngân hàng chính sách thường cung cấp các khoản vay ưu đãi cho các mục tiêu phát triển quốc gia, như nông nghiệp, nông thôn, chính sách xã hội, v.v. Chính phủ đảm bảo trách nhiệm thanh toán cho các khoản nợ này nếu ngân hàng chính sách gặp khó khăn trong việc trả nợ.

Như vậy, nợ được Chính phủ bảo lãnh bao gồm các khoản nợ của doanh nghiệp được bảo lãnh và các khoản nợ của ngân hàng chính sách của Nhà nước được bảo lãnh. Điều này nhằm đảm bảo rằng trong trường hợp các đơn vị này gặp khó khăn về tài chính, Chính phủ sẽ đảm bảo trách nhiệm thanh toán cho các khoản nợ này, từ đó tạo độ tin cậy và ổn định trong hệ thống tài chính của đất nước.

 

2. Trách nhiệm giám sát các khoản vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh

Theo quy định tại Điều 17 của Nghị định 94/2018/NĐ-CP về xây dựng và điều hành chỉ tiêu nợ nước ngoài của quốc gia, có các cơ quan có trách nhiệm giám sát các khoản vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh và đảm bảo các hạn mức vay đã được phê duyệt. Trong đó, Bộ Tài chính là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý và giám sát nợ nước ngoài của Chính phủ và các khoản vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.

- Theo quy định, Bộ Tài chính có nhiệm vụ quản lý, giám sát các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ và đảm bảo việc bảo lãnh các hạn mức vay đã được phê duyệt. Cụ thể, Bộ Tài chính tổ chức quản lý và giám sát chỉ tiêu nợ nước ngoài của quốc gia, đồng thời đảm bảo các khoản vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh theo quy định.

- Ngoài ra, theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính cùng với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện quản lý và giám sát chỉ tiêu nợ nước ngoài của quốc gia. Trong đó, Bộ Tài chính quản lý và giám sát nợ nước ngoài của Chính phủ và các khoản vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh, đảm bảo các hạn mức vay đã được phê duyệt. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quản lý và giám sát các khoản nợ tự vay tự trả nước ngoài của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về quản lý vay, trả nợ nước ngoài, trong đó không được Chính phủ bảo lãnh, và đảm bảo trong hạn mức đã được phê duyệt.

- Trong trường hợp chưa có phê duyệt hạn mức vay cho năm kế hoạch, Bộ Tài chính cùng với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ căn cứ vào tình hình thực tế để xác định các khoản vay nằm trong hạn mức vay hằng năm. Tuy nhiên, điều kiện số lũy kế vay ròng đến thời điểm xác nhận không được vượt quá 50% của hạn mức vay của năm trước.

Tổng kết lại, cơ quan có trách nhiệm giám sát các khoản vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh và đảm bảo các hạn mức đã được phê duyệt là Bộ Tài chính. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm quản lý và giám sát nợ nước ngoài của Chính phủ, cũng như các khoản vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.

 

3. Tổ chức công tác trả nợ đối với nợ được Chính phủ bảo lãnh?

Việc tổ chức công tác trả nợ đối với nợ được Chính phủ bảo lãnh được quy định theo khoản 3, Điều 21 của Nghị định 94/2018/NĐ-CP về tổ chức công tác trả nợ đối với nợ được Chính phủ bảo lãnh có những quy định sau đây.

- Đối với nợ Chính phủ: Bộ Tài chính có trách nhiệm bố trí nguồn ngân sách trung ương để trả nợ. Bộ Tài chính thực hiện thanh toán đầy đủ và đúng hạn các nghĩa vụ nợ gốc, lãi, phí. Đối với các khoản vay về cho vay lại, Bộ Tài chính và cơ quan được Bộ Tài chính ủy quyền cho vay lại có trách nhiệm thu hồi toàn bộ gốc, lãi, phí và các chi phí có liên quan.

- Đối với nợ chính quyền địa phương: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí nguồn ngân sách địa phương để trả nợ. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện thanh toán đầy đủ và đúng hạn các nghĩa vụ nợ gốc, lãi, phí.

- Đối với nợ được Chính phủ bảo lãnh: Đối tượng được Chính phủ bảo lãnh phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo quy định của thỏa thuận vay với bên cho vay và thỏa thuận bảo lãnh của Chính phủ. Người bảo lãnh có nghĩa vụ và đối tượng được bảo lãnh có trách nhiệm trong việc trả nợ, tuân thủ theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về cấp và quản lý bảo lãnh của Chính phủ.

Từ đó, có thể thấy rằng đối tượng được Chính phủ bảo lãnh phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo quy định của thỏa thuận vay với bên cho vay và thỏa thuận bảo lãnh của Chính phủ. Nghĩa vụ của người bảo lãnh và trách nhiệm của đối tượng được bảo lãnh trong việc trả nợ được thực hiện theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về cấp và quản lý bảo lãnh của Chính phủ

Xem thêm >>> Vay nước ngoài không được Chính phủ bảo lãnh là gì? Trình tự, thủ tục đăng ký khoản vay nước ngoài là gì?

Trong trường hợp quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc, câu hỏi hoặc vấn đề liên quan đến bài viết hoặc pháp luật, chúng tôi xin trân trọng gửi đến quý khách thông tin liên hệ với tổng đài tư vấn pháp luật 1900.6162 hoặc qua email lienhe@luatminhkhue.vn để được nhận sự hỗ trợ và tư vấn giải quyết một cách chi tiết và chuyên nghiệp. Chúng tôi cam kết đáp ứng nhanh chóng và đáng tin cậy đối với mọi yêu cầu của quý khách hàng. Qua kênh liên lạc trên, quý khách sẽ được đội ngũ chuyên gia pháp lý của chúng tôi tư vấn, giải đáp mọi thắc mắc và hỗ trợ giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật một cách hiệu quả và đáng tin cậy.