1. Quy định chung về cầm cố số dư tiền gửi 

Số dư tiền gửi tại các tổ chức tín dụng có thể là tiền gửi tiết kiệm (không và có kỳ hạn), tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi thanh toán (không kỳ hạn) và các loại tiền gửi khác. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 chỉ quy định một số tổ chức tín dụng là ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính vi mô được huy động tiền gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, quy định của Ngân hàng Nhà nước vẫn cho phép ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và quỹ tín dụng nhân dân cũng được huy động tiền gửi tiết kiệm. Chỉ có cá nhân mới được gửi tiết kiệm và nhận thẻ tiết kiệm (hay còn gọi là sổ tiết kiệm) xác nhận giao dịch tiền gửi. Trên thực tê đã xuất hiện một số hình thức gửi tiết kiệm mà không nhất tỊiiết phải có thẻ tiết kiệm.

Trước năm 2021, pháp luật chưa quy định về việc cầm cố số dư tiền gửi mà quy định cầm cố thẻ tiết kiệm giống như việc cầm cố giấy tò có giá. Việc cầm cố thẻ tiết kiệm là cách diễn đạt rút gọn, vì thực chất thẻ tiết kiệm không phải là giấy tờ có giá. Cách diễn đạt khác là cầm cố số tiền gửi trong thẻ tiết kiệm.

Theo quy định của pháp luật thì “bên vay trỗ thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó”, tức là số tiền đã gửi vào ngân hàng là tài sản thuộc sở hữu của ngân hàng, chứ không còn là sở hữu của người gửi tiền. Vì vậy, gọi theo đúng bản chất pháp lý, thì phải là biện pháp thế chấp quyền tài sản, mà cụ thể là quyền đòi nợ (hay quyền rút tiền) đối với số tiền gửi tại ngân hàng, trong đó giấy tờ xác nhận quyền sở hữu tiền gửi là thẻ tiết kiệm, tương tự như chứng chỉ tiền gửi, giấy chứng nhận tiền gửi hay hợp đồng tiền gửi. Nếu thay đổi theo hướng mở rộng khái niệm này, không chỉ giải quyết vướng mắc trong việc cầm cố thẻ tiết kiệm, mà còn phù hợp với việc nhận bảo đảm tiền gửi nói chung tại tổ chức tín dụng, gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm (có hoặc không có thẻ tiết kiệm), tiền gửi ký quỹ, tiền gửi thanh toán và các hình thức tiền gửi khác1. Đến năm 2021, pháp luật mới thay đổi quy định từ cầm cố thẻ tiết kiệm thành cầm cố số dư tiền gửi.

Nhìn chung, việc cầm cố số dư tiền gửi là một biện pháp bảo đảm rất an toàn trên thực tế. Tuy nhiên, vấn đề dễ xảy ra rủi ro, tranh chấp nếu như người cầm cố số dư tiền gửi không phải là chủ sở hữu số tiền gửi. Quy định “chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là người đứng tên trên thẻ tiết kiệm” tại Quyết định số 47/2006/QĐ-NHNN là chưa đủ cơ sở pháp lý.

Chỉ riêng đối với tiền gửi là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng thì cho dù số tiền có thể không phải là thuộc quyền sở hữu của người gửi tiền nhưng người gửi vẫn có quyền cầm cố, thế chấp theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó”.

Pháp luật chưa xác định rõ tư cách và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng quản lý số dư tiền gửi nói chung, phát hành thẻ tiết kiệm nói riêng ngoài quy định từ năm 2006 “bên nhận cầm cố có quyển yêu cầu tổ chức nhân tiền gửi tiết kiệm phong tỏa tài khoản tiền gửi tiết kiệm của bên cầm cố”.

Bên nhận cầm cố số dư tiền gửi không “giữ hoặc giao cho người thứ ba giữ” tài sản theo quy định chung. Tổ chức tín dụng nhận tiền gửi cũng không phải là ngưòi thứ ba giữ tài sản cầm cố (càng không phải là giữ tài sản thế chấp). Do đó, tổ chức tín dụng phát hành thẻ tiết kiệm cũng không có các nghĩa vụ theo “hợp đồng gửi giữ tài sản” như quy định “trường hợp tài sản cầm cố là vật do người thứ ba giữ mà có nguy cơ bị mất, hư hỏng, mất giá trị hoặc giảm sút giá trị thì quyền và nghĩa vụ giữa người thứ ba và bên nhận cầm cố được thực hiện theo hợp đồng gửi giữ tài sản”.

Thủ tục cầm cố số dư tiền gửi nói chung, thẻ tiết kiệm nói riêng vẫn được thực hiện trên thực tế là, bên nhận tiền gửi xác nhận đồng ý phong tỏa tài khoản tiền gửi và xác nhận hỗ trợ bên nhận cầm cố xử lý để thu hồi nợ. Tuy nhiên, việc này dường như mới chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ, chứ chưa rõ nghĩa vụ của tổ chức tín dụng. Nếu có nghĩa vụ thanh toán khác, đặc biệt nếu như chính là nghĩa vụ vổi tổ chức tín dụng nhận tiền gửi, thì họ có thể ưu tiên khấu trừ số tiền gửi trước. Bên nhận cầm cố khó có cơ sở pháp lý để đòi hỏi quyền lợi.

Như vậy, việc nhận cầm cố số dư tiền gửi không do bên nhận cầm cố giữ tài sản, nhưng lại không bắt buộc phải thực hiện thủ tục công chứng như quy định đối với tài sản thê chấp hay xác nhận, đăng ký như quy định đối với giấy tờ có giá hoặc tài sản khác. Vì vậy, khi xảy ra rủi ro, tranh chấp thì rất khó xử lý, vì chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng.

Giấy tờ có giá, chứng khoán, số dư tiền gửi tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nưốc ngoài được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhưng việc mô tả tài sản bảo đảm phải phù hợp với quy định của pháp luật về giấy tờ có giá, chứng khoán, ngân hàng. Nghị định số 21/2021/NĐ-CP1 đã không còn quy định cụ thể về trường hợp nhận cầm cố thẻ tiết kiệm thì bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm phong tỏa tài khoản tiền gửi tiết kiệm của bên cầm cố như Nghị định số 163/2006/NĐ-CP trước đó. 

2. Thời hạn cho vay cầm cố giấy tờ có giá 

1. Thời hạn cho vay cầm cố là dưới 12 tháng và không vượt quá thời hạn còn lại của giấy tờ có giá được cầm cố. Thời hạn cho vay cầm cố bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ. Trường hợp ngày trả nợ trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ thì thời hạn cho vay được kéo dài đến ngày làm việc tiếp theo.

2. Căn cứ mục đích vay vốn của tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước quyết định thời hạn cho vay, kỳ hạn thu nợ trong từng trường hợp cụ thể.

3. Trường hợp đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước có thể xem xét gia hạn khoản vay cầm cố trên cơ sở đề nghị của tổ chức tín dụng và lý do gia hạn phù hợp với định hướng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước.

Khi có nhu cầu đề nghị gia hạn khoản vay cầm cố tại Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng gửi 01 văn bản đề nghị gia hạn khoản vay cầm cố (trong đó giải trình rõ lý do đề nghị gia hạn) trực tiếp hoặc qua đường bưu điện tới Ngân hàng Nhà nước. Trong thời hạn tối đa 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị gia hạn khoản vay cầm cố, Ngân hàng Nhà nước có thông báo bằng văn bản cho tổ chức tín dụng đề nghị gia hạn về việc chấp thuận hoặc không chấp thuận gia hạn khoản vay cầm cố và gửi cho các đơn vị liên quan.

3. Lãi suất và mức cho vay cầm cố 

Lãi suất cho vay cầm cố

1. Lãi suất cho vay cầm cố đối với các tổ chức tín dụng là lãi suất tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước áp dụng khi cho vay cầm cố đối với các tổ chức tín dụng tại thời điểm giải ngân khoản vay và duy trì trong suốt thời hạn cho vay.

2. Trường hợp dư nợ vay cầm cố bị chuyển sang nợ quá hạn thì tổ chức tín dụng phải chịu lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay ghi trên hợp đồng tín dụng.

Mức cho vay cầm cố

1. Căn cứ mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ, nhu cầu vay vốn, giá trị giấy tờ có giá làm bảo đảm và dư nợ các khoản vay khác của tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước quyết định mức cho vay cầm cố đối với tổ chức tín dụng đề nghị vay.

2. Mức cho vay tối đa không vượt quá giá trị giấy tờ có giá làm bảo đảm được quy đổi theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

4. Thẩm quyền tham gia nghiệp vụ vay cầm cố

1. Người có thẩm quyền thay mặt tổ chức tín dụng ký các văn bản tham gia nghiệp vụ vay cầm cố tại Ngân hàng Nhà nước là một trong những người sau đây:

a) Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng thành viên của tổ chức tín dụng;

b) Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức tín dụng.

2. Người có thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều này có thể ủy quyền cho Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc) hoặc Giám đốc chi nhánh ký các văn bản tham gia nghiệp vụ vay cầm cố tại Ngân hàng Nhà nước phù hợp với quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm về sự ủy quyền này. Người được ủy quyền không được ủy quyền lại cho người thứ ba.

5.Hồ sơ đề nghị vay cầm cố

Khi có nhu cầu vay cầm cố tại Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng gửi 01 bộ hồ sơ trực tiếp hoặc qua đường bưu điện tới Ngân hàng Nhà nước. Hồ sơ đề nghị vay cầm cố bao gồm:

1. Giấy đề nghị vay vốn theo hình thức cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá (theo Mẫu 01/NHNN-CC);

2. Bảng kê các giấy tờ có giá đề nghị cầm cố để vay vốn tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có xác nhận của tổ chức phát hành, đại lý phát hành hoặc tổ chức lưu ký (theo Mẫu 02a/NHNN-CC);

3. Một số chỉ tiêu về nguồn vốn và sử dụng vốn bằng đồng Việt Nam theo Mẫu 03/NHNN-CC; Tình hình giao dịch của tổ chức tín dụng với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo Mẫu 04/NHNN-CC; Bảng tính toán nhu cầu vay vốn VND từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo Mẫu 05/NHNN-CC;

4. Bảng cân đối kế toán của tổ chức tín dụng tại thời điểm gần nhất (bản chính).

Chấp thuận và từ chối đề nghị vay cầm cố của tổ chức tín dụng

1. Căn cứ vào hồ sơ đề nghị vay cầm cố của tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước xem xét đề nghị vay của tổ chức tín dụng và trong thời hạn tối đa 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hợp lệ đề nghị vay cầm cố theo quy định tại Điều 15 của Thông tư này, Ngân hàng Nhà nước thông báo bằng văn bản cho tổ chức tín dụng đề nghị vay về việc chấp thuận (theo Mẫu 06a/NHNN-CC) hay không chấp thuận cho vay cầm cố (theo Mẫu 06b/NHNN-CC) và gửi cho các đơn vị liên quan.

2. Ngân hàng Nhà nước không xem xét đề nghị vay cầm cố của tổ chức tín dụng khi tổ chức tín dụng không đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 10 của Thông tư này.

Giao nhận và hoàn trả giấy tờ có giá làm tài sản cầm cố

1. Sau khi nhận được thông báo về việc chấp thuận cho vay cầm cố của Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng đề nghị vay phải tiến hành chuyển giao các giấy tờ có giá để làm tài sản cầm cố cho Ngân hàng Nhà nước.

2. Ngân hàng Nhà nước thực hiện cầm cố các giấy tờ có giá theo đúng danh mục giấy tờ có giá đã được phê duyệt.

3. Trong thời gian vay, tổ chức tín dụng có nhu cầu đổi giấy tờ có giá đang được cầm cố tại Ngân hàng Nhà nước bằng các giấy tờ có giá khác đủ tiêu chuẩn và nằm trong danh mục giấy tờ có giá được sử dụng cầm cố vay vốn tại Ngân hàng Nhà nước, tổ chức tín dụng gửi 01 bộ hồ sơ trực tiếp hoặc qua đường bưu điện tới Ngân hàng Nhà nước. Hồ sơ bao gồm:

a) Văn bản giải trình lý do đổi giấy tờ có giá đang được cầm cố tại Ngân hàng Nhà nước bằng các giấy tờ có giá khác.

b) Bảng kê các giấy tờ có giá thay thế để cầm cố vay vốn tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có xác nhận của tổ chức phát hành, đại lý phát hành hoặc tổ chức lưu ký (theo Mẫu 02b/NHNN-CC);

Trong thời hạn tối đa 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị đổi giấy tờ có giá được cầm cố tại Ngân hàng Nhà nước của tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước thông báo bằng văn bản cho tổ chức tín dụng về việc chấp thuận hay không chấp thuận đổi giấy tờ có giá đang cầm cố và gửi cho các đơn vị liên quan.

4. Sau khi tổ chức tín dụng đã hoàn trả hết nợ gốc và lãi vay, Ngân hàng Nhà nước sẽ hoàn trả các giấy tờ có giá đã sử dụng làm tài sản cầm cố cho tổ chức tín dụng.

Thực hiện cho vay cầm cố

1. Việc cho vay cầm cố đối với các tổ chức tín dụng được thực hiện tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước.

Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước căn cứ vào hồ sơ chấp thuận cho vay cầm cố đã được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước phê duyệt tiến hành làm thủ tục nhận tài sản cầm cố, ký hợp đồng tín dụng với tổ chức tín dụng và chuyển số tiền cho vay vào tài khoản tiền gửi của tổ chức tín dụng tại Ngân hàng Nhà nước.

2. Trong trường hợp cần thiết, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có thể ủy quyền cho Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện cho vay cầm cố đối với tổ chức tín dụng có trụ sở chính trên địa bàn. Quy trình thực hiện cho vay cầm cố tại Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố như thực hiện tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước.