1. Khái niệm "đa dạng sinh học"

Đa dạng sinh học là khái niệm được hiểu khác nhau nếu tiếp cận từ các góc độ khác nhau. Nếu tiếp cận từ quan điểm kết cấu thì đa dạng sinh học bao gồm các thực thể sống quần tụ lại theo nhóm, loài, cộng đồng...Tiếp cận từ góc độ chức năng thì nói đến đa dạng sinh học là nói đến các hệ sinh thái và các quá trình tiến hoá. Dù tiếp cận ở từ góc độ nào thì các định nghĩa về đa dạng sinh học đều thừa nhận mối liên hệ giữa các giống loài, sự phụ thuộc vào nhau giữa chúng trong quá trình tiến hoá và phát triển. Đa dạng sinh học cấu thành nền tảng của cuộc sống trên trái đất, cuộc sống của cả con người và các thực thể sống khác. Công ước quốc tế về đa dạng sinh học đã đưa ra định nghĩa sau đây về đa dạng sinh học:​

"Đa dạng sinh học là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên.” (khoản 5 Điều 3 Luật Đa dạng sinh học năm 2008).

2. Vai trò của đa dạng sinh học

* Giá trị kinh tế:

Về giá trị kinh tế của đa dạng sinh học: Sự đa dạng sinh học là nền tảng phát triển của các cộng đồng ttong những thời kì trước đây cũng như hiện nay. Sự phụ thuộc của nhiều cộng đồng và đa dạng sinh học có thể nhìn thấy rõ nhất ở tất cả các cộng đồng trong các thời kì phát triển xa xưa cũng như ở các nước nông nghiệp kém phát triển trên giới trong thời đại ngày nay. Các loài thực vật trong nhiều thế kỉ đã cung cấp cho con người những sự che chở khỏi mưa nắng, nhất đối với tất cả cộng đồng sống chưa được khai sáng. Những căn nhà gỗ, những túp lều tranh đều có giá trị đối với con người, bảo vệ họ khỏi những sự bất thường của thời tiết. Những phương tiện đi lại của con người cũng bắt đầu từ giá trị của đa dạng sinh học. Bè lau, bè nứa, thuyền độc mộc, xe đẩy, xe kéo đều được làm từ các loại gỗ, nứa khác nhau.

* Giá trị xã hội:

- Trước đây vài trăm năm, tất cả các cộng đồng nhờ vào các loài hoang dã và cả vào những loài đã được thuần dưỡng để đảm bảo cho mình lương thực và thực phẩm, chất đốt và các dược liệu để làm thuốc chữa bệnh. Ngày nay, sự phát triển của các ngành công nghiệp, chăn nuôi đã giảm bớt sự lệ thuộc của con người vào thế giới hoang dã. Tuy nhiên, con người cũng không thể tách khỏi đa dạng sinh học trong quá trình phát triển của mình. Công nghệ chế biến thực phẩm dù hiện đại đến đâu vẫn không thể bắt đầu nếu không có các nguồn nguyên liệu từ đa dạng sinh học. 

- Một giá trị to lớn khác của đa dạng sinh học chính là sức khoẻ của con người, sống trong môi trường tự nhiên, con người chịu sự tác động của tự nhiên, bởi vì con người là một phần của tự nhiên. Đa dạng sinh học giữ cho con người môi trường sống tốt cho sức khoẻ. Giá trị thể hiện ở chỗ sức khoẻ của con người phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, vào môi trường. Điều này thể hiện ở khả năng của đa dạng sinh học trong việc làm trong sạch nước và không khí; phân hoá các độc tố bị phát tán do hoạt động của con người hoặc các tác động thiên nhiên. Nhiều loài thực vật có khả năng hấp thụ các chất độc trong không khí, giữ cho con người môi trường không khí trong lành. Một số loài rau, cỏ, thuỷ sinh có khả năng làm sạch các nguồn nước để tạo cho con người và các loài khác môi trường nước trong lành. Rõ ràng khỉ rừng nhiệt đới bị tàn phá, da dạng sinh học bị kiệt quệ sẽ góp phần làm cho tầng ôzôn bị thủng, tạo ra những thay đổi thời tiết bất lợi đối với sức khoẻ của con người.

- Mặt khác, phải nhận thấy rằng con người tìm thấy trong sự đa dạng sinh học các nguồn dược liệu để chữa bệnh. Đối với các cộng đồng chậm phát triển thì các bài thuốc chữa bệnh chủ yếu là các loài động thực vật có sẵn trong thế giới tự nhiên. 

3. Ý nghĩa của công tác bảo tồn đa dạng sinh học

Thứ nhất, đảm bảo cho hệ sinh thái được đảm bảo, sự chu chuyển Oxy và các nguyên tố dinh dưỡng khác toàn trái đất. Chúng giúp cân bằng sự ổn định và sự màu mỡ của đất và các hệ sinh thái khác nói chung trên trái đất.

Thứ hai, hạn chế sự xói mòn của mặt đất và bờ biển, điều tiết dòng chảy của các con sông, suối, loại bỏ những dòng chảy bẩn để lọc những dòng chảy sạch cho con người sử dụng, ở thềm lục địa làm giảm cường độ phá hoại của sóng, dòng biển, là nơi nuôi dưỡng, cung cấp thức ăn và duy trì cuộc sống cho hàng vạn loài sinh vật biển.

Thứ ba, việc đa dạng các sản phẩm cây trồng hay vật nuôi sẽ góp phần đáp ứng được đầy đủ những nhu cầu khác nhau của xã hội.

Có thể khẳng định rằng, đa dạng sinh học có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống của con người và sinh vật khác. Chính vì vậy, thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng cần phải có những chính sách mới, để có thể cân bằng hệ sinh thái.

4. Hiến pháp năm 2013

Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 còn nêu rõ: “Bảo vệ môi trường mang tính quốc gia, khu vực và toàn cầu cho nên phải kết hợp giữa phát huy nội lực và tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững”.

Hiến pháp năm 2013 được ban hành có rất nhiều nội dung liên quan đến bảo vệ môi trường và được quy định tại các Điều 43, 50 và 63, Cụ thể:

Điều 43 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường.” Việc quy định tại điều 43 (chương II quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân) đã khẳng định quyền được sống trong môi trường trong lành cũng như nghĩa vụ bảo vệ môi trường của mọi người. Khi Nhà nước ghi nhận quyền được sống trong môi trường trong lành của mọi người cũng có nghĩa là Nhà nước ghi nhận trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ môi trường. Theo quy định tại Điều 96, Hiến pháp 2013 thì Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về môi trường. Chính vì vậy, việc bảo vệ môi trường là một nhiệm vụ mà Hiến pháp đã bước đầu quy định cho Chính phủ. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường trong thời gian tới cần rất nhiều các quy định để ghi nhận cũng như đảm bảo nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong hoạt động bảo vệ môi trường. Đồng thời, nghĩa vụ bảo vệ môi trường cũng là một nghĩa vụ cơ bản của mọi người, không phân biệt tôn giáo, quốc tịch, dòng máu...

Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 có Chương III quy định về kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường. Điều 50 Hiến pháp năm 2013 cũng có quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.” Như vậy, việc quy định tại Chương III của Hiến pháp cho thấy Nhà nước ta đã và đang đánh giá cao tầm quan trọng của bảo vệ môi trường. Việc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, xã hội là rất quan trọng nhưng cũng cần đảm bảo việc bảo vệ môi trường. Như vậy, thông qua hoạt động bảo vệ môi trường mà việc xây dựng kinh tế, xã hội của đất nước được đảm bảo. Việc xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội với mục tiêu phát triển bền vững thì không thể tách rời với bảo vệ môi trường. Chính vì vậy, với quy định tại Điều 50, Hiến pháp 2013, các hoạt động kinh tế, xã hội sẽ được gắn liền với công tác bảo vệ môi trường mà không bị tách rời.

Đặc biệt tại Điều 63 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

2. Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo.

3. Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại.”

Khác với các quy định khác về vấn đề này trong Hiến pháp năm 2013, Điều 63 đã khẳng định được tầm quan trọng của bảo vệ môi trường. Việc bảo vệ môi trường cũng được đặt các mục tiêu cụ thể, rõ ràng là: quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên là mục tiêu quan trọng của chính sách bảo vệ môi trường. Việc khai thác, quản lý, sử dụng phải có giá trị hiệu quả nhưng đồng thời cũng cần đảm bảo sự bền vững của tất cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Với mục tiêu như vậy, thì các văn bản pháp luật cũng như thực tế triển khai thi hành cần phải có sự thống nhất trong chính sách bảo vệ môi trường.

Đồng thời, mục tiêu bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học cũng được ghi nhận trong các quy định về bảo vệ môi trường. Thực tế quy định này chính là những đảm bảo của Nhà nước đối với mục tiêu bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học. Thậm chí, trường hợp nếu có những đề án, dự án có nguy cơ làm mất sự đa dạng sinh học thì cơ quan có thẩm quyền hay người dân đều có thể có ý kiến về việc đảm bảo sự đa dạng sinh học theo quy định của Hiến pháp.

5. Luật đa dạng sinh học năm 2008

Bảo vệ đa dạng sinh học là một nội dung của bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên nên các quy định về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học được đề cập cả trong các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường và văn bản quy phạm pháp luật về đa dạng sinh học. Luật đa dạng sinh học năm 2008 định nghĩa về đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái.

Một số nguyên tắc chung về bảo tồn đa dạng sinh học cũng đã được các văn bản nêu ưên đề cập. Theo đó, bảo tồn đa dạng sinh học là trách nhiệm của Nhà nước và mọi tổ chức, cá nhân; kết hợp hài hòa giữa bảo tồn với khai thác, sử dụng hợp lí đa dạng sinh học; giữa bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lí đa dạng sinh học với việc xóa đói, giảm nghèo; bảo tồn tại chỗ là chính, kết họp bảo tồn tại chỗ với bảo tồn chuyển chỗ; tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ việc khai thác, sử dụng đa dạng sinh học phải chia sẻ lợi ích với các bên có liên quan; bảo đảm hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của tổ chức, cá nhân; bảo đầm quản lí rủi ro do sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gen gây ra đối với đa dạng sinh học.

Bên cạnh các nguyên tắc chung về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học là những chính sách lớn của Nhà nước trong lĩnh vực này, gồm: Ưu tiên bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên quan họng, đặc thù hoặc đại diện cho một vùng sinh thái, bảo tồn loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; bảo đảm kiểm soát việc tiếp cận nguồn gen; bảo đảm kinh phí cho hoạt động điều ha cơ bản, quan hắc, thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học và quy hoạch bảo tôn đa dạng sinh học; đầu tư cơ sở vật chất - kĩ thuật cho khu bảo tồn, cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học của Nhà nước; bảo đảm sự tham gia của nhân dân địa phương hong quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học; khuyến khích và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đầu tư, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, tri thức truyền thống vào việc bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học; phát triển du lịch sinh thái gắn với việc xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm ổn định cuộc sống của hộ gia đình, cá nhân sinh sống hợp pháp trong khu bảo tồn; phát triển bền vững vùng đệm của khu bảo tồn; phát huy nguồn lực ttong nước, ngoài nước để bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học.

Trách nhiệm quản lí nhà nước về đa dạng sinh học cũng được xác định rõ theo hướng Chính phủ thống nhất quản lí nhà nước về đa dạng sinh học; Bộ tài nguyên và môi trường chịu ttách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lí nhà nước về đa dạng sinh học; bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lí nhà nước về đa dạng sinh học theo phân công của Chính phủ; uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lí nhà nước về đa dạng sinh học theo phân cấp của Chính phủ.

Những hành vi bị nghiêm cấm về đa dạng sinh học cũng được Luật đa dạng sinh học năm 2008 chỉ rõ, gồm: nghiêm cấm săn bắt, đánh bắt, khai thác loài hoang dã trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn, trừ việc vì mục đích nghiên cứu khoa học; lấn chiếm đất đai, phá hoại cảnh quan, huỷ hoại hệ sinh thái tự nhiên, nuôi ttồng các loài ngoại lai xâm hại trong khu bảo tồn; nghiêm cẩm xây dựng công trình, nhà ở trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn, trừ công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh; xây dựng công trình, nhà ở trái phép trong phân khu phục hồi sinh thái của khu bảo tồn; nghiêm cấm điều tra, khảo sát, thăm dò, khai thác khoáng sản;...

Các giải pháp bảo vệ đa dạng sinh học cũng có thể tìm thấy trong một số lĩnh vực pháp luật công như pháp luật hình sự, pháp luật hành chính. Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cũng đã dành cho việc bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học một chương riêng, Chương XVII về “Các tội phạm về môi trường”. Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cũng đã hoàn thiện thêm một bước các quy định về tội phạm môi trường.