1. Các nguyên tắc xử lý tham nhũng trong pháp luật phòng, chống tham nhũng.

    Xử lý hành vi tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật khác là biện pháp quan trọng để bảo đảm sự nghiêm minh, bảo đảm tính răn đe của pháp luật. Vấn đề này được quy định trong Chương V Luật PCTN, trong đó đề cập đến hai khía cạnh: xử lý đối tượng tham nhũng và xử lý tài sản tham nhũng 

1. Xử lý đối tượng tham nhũng 

    Mục I Chương V (Điều 68,69) Luật PCTNquy định hai hình thức chế tài áp dụng đối với người có hành vi tham nhũng là xử lý kỷ luật hoặc xử lý hình sự. 

Theo Điều 68, đối tượng bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự bao gồm: 

(1) Người có hành vi tham nhũng quy định tại Điều 3 của Luật này; 

(2) Người không báo cáo, tố giác khi biết được hành vi tham nhũng; 

(3) Người không xử lý báo cáo, tố giác, tố cáo về hành vi tham nhũng; 

(4) Người có hành vi đe doạ, trả thù, trù dập người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng; 

(5) Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách; 

(6) Người thực hiện hành vi khác vi phạm quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. 

Điều 69 đề cập khái quát đến nguyên tắc, đường lối xử lý, theo đó người có hành vi tham nhũng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự; trong trường hợp bị kết án về hành vi tham nhũng và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải bị buộc thôi việc; đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND thì đương nhiên mất quyền đại biểu.Theo đó, đối tượng bị áp dụng chế tài gồm: người có hành vi tham nhũng quy định tại Điều 3 của Luật; người không báo cáo, tố giác khi biết được hành vi tham nhũng; người không xử lý báo cáo, tố giác, tố cáo về hành vi tham nhũng; người có hành vi đe doạ, trả thù, trù dập người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đó xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách; người thực hiện hành vi khác vi phạm quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. 

1.2. Xử lý tài sản tham nhũng 

    Mục I Chương V (Điều 70,71) Luật PCTN quy định về việc xử lý tài sản tham nhũng.     Theo Điều 70, nguyên tắc xử lý tài sản tham nhũng là: tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu, trả lại cho chủ sở hữu, quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước; người đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi hành vi đưa hối lộ bị phát hiện thì được trả lại tài sản đã dùng để hối lộ. 

    Điều 71 quy định việc thu hồi tài sản tham nhũng có yếu tố nước ngoài được thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế màViệt Nam là thành viên và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. 

2. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong pháp luật phòng, chống tham nhũng.

Luật năm 2018 đã quy định thành một chương riêng  (chương 5) và sửa đổi, bổ sung nhằm cụ thể hoá và đề cao vai trò của người đứng đầu. Theo đó, quy định nội dung trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng (Điều 70); quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc áp dụng biện pháp tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác đối với người có hành vi vi phạm (Điều 71); quy định trách nhiệm và xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do cơ quan mình quản lý, phụ trách (Điều 72 và Điều 73).

Để bảo đảm thi hành Luật PCTN năm 2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2019/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/7/2019 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật PCTN năm 2018. Trong đó, Chương VI của Nghị định 59 quy định về việc tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác đối với người có chức vụ, quyền hạn có hành vi vi phạm liên quan đến tham nhũng và Chương X quy định về xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về phòng chống tham.

Theo quy định tại điều 78 của Nghị định 59, trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ việc tham nhũng ít nghiêm trọng sẽ bị áp dụng hình thức kỷ luật khiển trách. Trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ việc tham nhũng nghiêm trọng hoặc nhiều vụ việc tham nhũng ít nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách sẽ bị áp dụng hình thức kỷ luật cảnh cáo. Đối với trường hợp người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ việc tham nhũng rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc nhiều vụ việc tham nhũng nghiêm trọng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách sẽ bị áp dụng hình thức kỷ luật cách chức. 

Quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc phòng ngừa, đấu tranh và xử lý tham nhũng, một mặt yêu cầu người đứng đầu phải có biện pháp quản lý, kiểm soát không để tham nhũng xảy ra; mặt khác, nếu có tham nhũng, phải có trách nhiệm xử lý, báo cáo với cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về tham nhũng. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị sẽ phải chịu trách nhiệm kỷ luật hoặc trách nhiệm hình sự khi để xảy ra tham nhũng. Đây là trách nhiệm liên quan đến tham nhũng của người đứng đầu.

Xử lý trách nhiệm người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy rat ham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách, quy định cụ thể tại Điều 76, Điều 77, Điều 78, Điều 79, Điều 80 Nghị định số 59/2019/NĐ-CP và Công văn số 298/CP-C.I ngày 22/7/2019 của Chính phủ về việc đính chính Nghị định số 59/2019/NĐ-CP

3. Xử lý tham nhũng và các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng chống tham nhũng

Luật phòng chống tham nhũng năm 1018 và Nghị định  59 đã có những quy định về việc tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác đối với người có chức vụ, quyền hạn có hành vi vi phạm liên quan đến tham nhũng và Chương X quy định về xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng và xử lý hành vi vi phạm pháp luật về phòng chống tham. Ngoài ra, Nghị định 59 cũng có những quy định về việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về tham nhũng có liên quan từ điều 81 -87. 

Theo quy định tại điều 95 Luật phòng chống tham nhũng 2018 thì đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là công ty đại chúng, tổ chức tín dụng và tổ chức xã hội do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc phê duyệt điều lệ có huy động các khoản đóng góp của Nhân dân để hoạt động từ thiện vi phạm quy định tại Điều 80 của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà Doanh nghiệp, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức bị xử lý theo điều lệ, quy chế, quy định của doanh nghiệp, tổ chức đó. Trường hợp doanh nghiệp, tổ chức không thực hiện các biện pháp xử lý đối với người giữ chức danh, chức vụ quản lý thì bị cơ quan có thẩm quyền thanh tra công bố công khai về tên, địa chỉ và hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

3.1. Chế tài kỷ luật

Trách nhiệm kỷ luật là việc áp dụng những hậu quả bất lợi đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi tham nhũng mà theo quy định của pháp luật phải xử lý bằng chế tài kỷ luật. Theo quy định của pháp luật thì chế tài kỷ luật có các hình thức sau tương ứng với mức đội vi phạm của hành vi tham nhũng gồm: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc. Ngoài ra, theo quy định tại điều 92 Luật phòng chống tham nhũng 2018 đã có những quy định bổ sung nghiêm khắc hơn cụ thể: Người bị kết án về tội phạm tham nhũng là cán bộ, công chức, viên chức mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên bị buộc thôi việc đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng Nhân dân thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng Nhân dân.

"1. Người có hành vi tham nhũng giữ bất kì chức vụ, vị trí công tác nào đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, kể cả người đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác.

2. Người có hành vi tham nhũng quy định tại Điều 2 của Luật phòng, chống tham nhũng (các hành vi tham nhũng) thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, phải bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp người có hành vi tham nhũng bị xử lý kỷ luật là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì bị xem xét tăng hình thức kỷ luật.

4. Người có hành vi tham nhũng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần hạn chế thiệt hại, tự giác nộp lại tài sản tham nhũng, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng thì được xem xét giảm hình thức kỷ luật, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

5. Người bị kết án về tội phạm tham nhũng là cán bộ, công chức, viên chức mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên bị buộc thôi việc đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân"

3.2. Biện pháp tư pháp

Biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó. Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới, giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

+ Bộ luật hình sự năm 2015 đã có những quy định về các tội liên quan đến tham nhũng cụ thể: Tội tham ô tài sản (Điều 353); Tội nhận hối lộ (Điều 354); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358); Tội giả mạo trong công tác (Điều 359).

+ Trong Luật phòng chống tham nhũng năm 2018: Tội đưa hối lộ (Điều 364), Tội môi giới hối lộ (Điều 365) (Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017).

Những biện pháp này được áp dụng nhằm thu hồi, sửa chữa, khắc phục tài sản do người phạm tội chiếm đoạt bất hợp pháp bởi hành vi tham nhũng hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội trả lại cho chủ sở hữu hoặc sung công quỹ đồng thời nhằm tước đoạt những điều kiện để người phạm tội có thể tái phạm. Ngoài những mục đích trên những biện pháp này còn có ý nghĩa to lớn trong việc phòng ngừa tội phạm.

Tham nhũng thường được thực hiện bởi rất nhiều hành vi và không chỉ bởi hành vi của người có chức, có quyền mà còn liên quan đến nhiều hành vi của các đối tượng khác. Tuy nhiên, trong pháp luật hình sự, hành vi tham nhũng nào cần phải được hình sự hóa phụ thuộc vào các yếu tố như: Chủ thể phải là những người có chức, có quyền trong hệ thống chính trị; phải là những hành vi tham nhũng ở mức độ cao hoặc hành vi làm không hết thẩm quyền, vượt thẩm quyền, sai thẩm quyền liên quan đến tham nhũng: xuất phát từ động cơ cá nhân, vụ lợi; có hậu quả thiệt hại cho Nhà nước, xã hội hoặc công dân; phải chứng minh được về mặt tố tụng…

Tóm lại, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về phòng chống tham nhũng là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp, chế tài nghiêm khắc để xử lý các cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định về PCTN. Các nội dung này được quy định ngay trong Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 và một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan như đã nêu trên.

4. Thẩm quyền xử lý tham nhũng

Theo quy định tại Điều 62 và Điều 63 của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 khi phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử thì cơ quan có thẩm quyền sẽ xử lý như sau:

Cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử có trách nhiệm chủ động phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

Khi phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thông qua hoạt động giám sát có trách nhiệm phát hiện hành vi tham nhũng, yêu cầu hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật.

 

 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập).