1. Khái niệm quy định

Quy định là những quy tắc, chuẩn mực trong xử sự; những tiêu chuẩn, định mức về kinh tế, kĩ thuật được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận và buộc các tổ chức, cá nhân có liên quan phải tuân thủ. Các quy định được thể hiện chủ yếu dưới hình thức quy phạm pháp luật và được ban hành dưới những hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.

Ví dụ: các quy định trong các đạo luật của Quốc hội, các nghị định của Chính phủ... Đây là những quy định mang tính pháp lí, được tuân thủ một cách nghiêm ngặt dựa trên sức cưỡng chế của Nhà nước. Cũng có khi các quy định không được thể hiện và ban hành dưới các hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Ví dụ. các quy định trong Điều lệ Hội luật gia Việt Nam. Các quy định này tuy không mang tính pháp lí nhà nước một cách trực tiếp nhưng cũng đòi hỏi phải có sự tuân thủ của các hội viên khi họ tự nguyện tham gia hội và cũng tức là cam kết tuân thủ điều lệ của tổ chức này.

2. Bản chất của quy định pháp luật

2.1 Quy định pháp luật là hệ thống những quy tắc mang tính xử sự chung.

Nói đến pháp luật là nói đến tính quy phạm phổ biến, tức là nói đến tính khuôn mẫu phổ biến chung. Trong xã hội không chỉ pháp luật có thuộc tính quy phạm. Đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo, các tổ chức của chính trị – xã hội và toàn thể quần chúng đều có tính quy phạm.

Thuộc tính quy phạm của pháp luật thể hiện ở chỗ:

- Là khuôn mẫu chung cho nhiều người

- Được áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gian rộng lớn

Tính bắt buộc chung của pháp luật thể hiện ở chỗ:

- Tuân theo các quy tắc pháp luật không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của mỗi người quy định này được áp dụng đối với tất cả mọi người

- Không phân định tiền tài, địa vị, chức vụ, dù thế nào cũng phải tuân theo các quy tắc pháp luật.

- Khi mà nó được áp dụng với tất cả mọi người trong xã hội này không tuân thủ theo thì sẽ bị xử lý theo pháp luật

Ví dụ: Luật giao thông đường bộ yêu cầu tất cả mọi người khi tham gia giao thông phải đội mũ bảo hiểm. Quy định này được áp dụng đối với tất cả mọi người , không phân định già trẻ, gái trai, độ tuổi. Và nếu vi phạm sẽ bị xử lý một cách nghiêm khắc theo quy định của pháp luật.

2.2 Do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận

Ngoài việc ban hành nhà nước còn có thể thừa nhận những tập quán trong xã hội bằng cách ghi nhận trong luật thành văn.

2.3 Đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước

Quyền lực của nhà nước được thể hiện ở các biện pháp cưỡng chế khi không tuân thủ hay cố ý sai phạm. Với sự đảm bảo của nhà nước đã làm cho pháp luật luôn được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu quả đối với đời sống xã hội.

2.4 Thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích, giai cấp của mình.

Bản chất của pháp luật trước hết thể hiện ở tính giai cấp. Tính giai cấp của pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trong xã hội, nội dung ý chí đó được quy định bởi điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp thống trị được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

Như vậy, thông qua định nghĩ này ta thấy trước hết Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự, những quy tắc xử sự này mang tính chất bắt buộc chung đối với tất cả các cá nhân và tổ chức trong xã hội, bất kì ai cũng phải tuân thủ các quy định này.

Những quy định này được nhà nước ban hành và có thể là nhà nước không ban hành quy định đó vì nó luôn tồn tại sẵn trong cuộc sống, nó chỉ được coi là pháp luật khi được nhà nước công nhận, khi được nhà nước ban hành và thừa nhận rồi thì những quy tắc xử sự đó sẽ được nhà nước đảm bảo, thực hiện và thể hiện ý chí của nhà nước.

Có nghĩa là nếu một người nào đó không thực hiện các quy tắc xử sự này, thì ngay lập tức họ sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước.

3. Nguồn gốc của quy định pháp luật

Những nguyên nhân làm phát sinh ra nhà nước cũng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của pháp luật.

Xã hội cộng sản nguyên thủy (CSNT), tập quán và tín điều tôn giáo: là các quy phạm xã hội. Khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội được phân chia giai cấp thì tập quán không còn phù hợp ( vì tập quán thể hiện ý chí chung của tất cả mọi người trong thị tộc ).

Trong điều kiện lịch sử mới, khi xung đột giai cấp diễn ra ngày càng gay gắt và cuộc đấu tranh của giai cấp là không thể điều hòa được thì cần thiết phải có một loại quy phạm mới thể hiện các ý chí của giai cấp thống trị để thiết lập một trật tự mới, đó chính là quy phạm pháp luật.

Pháp luật là hệ thống các quy phạm do nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Pháp luật ra đời cùng với nhà nước, là công cụ sắc bén để thực hiện quyền lực nhà nước, duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Nhà nước và pháp luật đều là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp.

Như vậy, pháp luật ra đời do nhu cầu xã hội để quản lý một xã hội đã phát triển ở một giai đoạn nhất định, giai đoạn xã hội đã phát triển quá phức tạp, đã xuất hiện những giai cấp có lợi ích đối lập với nhau và nhu cầu chính trị – giai cấp để bảo vệ lợi ích cho giai cấp, lực lượng thống trị về kinh tế và chính trị trong xã hội.

4. Vai trò của quy định pháp luật

Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là công cụ không thể thiếu, có thể bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng. Pháp luật chính là phương tiện thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi công dân.

5. Đặc điểm của quy định pháp luật

a. Pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện

Pháp luật do Nhà nước ban hành thông qua rất nhiều những trình tự thủ tục chặt chẽ và phức tạp với sự tham gia của rất nhiều các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức và các cá nhân nên pháp luật luôn có tính khoa học, chặt chẽ, chính xác trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó các biện pháp cưỡng chế nhà nước rất nghiêm khắc như phạt tiền, tù chung thân, phạt tù có thời hạn, … Với sự bảo đảm của nhà nước đã làm cho pháp luật luôn được các tổ chức và cá nhân tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu quả trong đời sống xã hội.

b. Pháp luật có tính quy phạm phổ biến, gồm những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung

Pháp luật gồm tất cả các quy tắc xử sự chung, được thể hiện trong những hình thức xác định, có kết cấu lô rich rất chặt chẽ và được đặt ra không phải xuất phát từ một trường hợp cụ thể mà là sự khái quát hóa từ rất nhiều những trường hợp có tính phổ biến trong xã hội.

Điều này đã làm cho quy định pháp luật có tính khái quát hóa cao, là những khuôn mẫu điển hình để các chủ thể (tổ chức, cá nhân) thực hiện theo khi gặp phải những tình huống mà pháp luật đã dự liệu.

Pháp luật mang tính bắt buộc chung, các quy định pháp luật được dự liệu không phải cho một tổ chức hay cá nhân cụ thể mà cho tất cả các tổ chức và cá nhân có liên quan. Xuất phát từ vị trí, vai trò của nhà nước trong xã hội (tổ chức đại diện chính thức cho toàn xã hội), nên pháp luật là bắt buộc đối với tất cả, việc thực hiện pháp luật

c. Pháp luật có tính xác định chặt chẽ về hình thức

Pháp luật luôn được thể hiện dưới những hình thức phải nhất định, nói cách khác, những quy định pháp luật phải được chứa đựng trong các nguồn luật như tập quán pháp, văn bản quy phạm pháp luật, tiền lệ pháp,…

Sự xác định chặt chẽ về hình thức là điều kiện để phân biệt giữa pháp luật với những quy định không phải là pháp luật, đồng thời, cũng tạo nên sự thống nhất, rõ ràng, chặt chẽ, chính xác về nội dung của pháp luật.

6. Phân biệt sự khác nhau giữa quy định và quy chế

Trước hết, ta cần tìm hiểu quy chế là gì, quy chế (tiếng anh là Statute) được biết đến là văn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc quy phạm xã hội do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành, quy chế theo một trình tự, thủ tục nhất định, có hiệu lực đối với các thành viên thuộc phạm vi điều chỉnh của quy chế. Quy chế là quy phạm điều chỉnh các vấn đề như chế độ chính sách, công tác nhân sự, quyền hạn, tổ chức hoạt động quy chế đưa ra những yêu cầu mà các thành viên thuộc phạm vi điều chỉnh của quy chế cần đạt được và mang tính nguyên tắc.
Để xây dựng và ban hành một văn bản quy chế hợp pháp, phù hợp với thực tiễn công ty cũng như đảm bảo được tính khoa học và ứng dụng là điều không dễ, phải đảm bảo đủ cả ba yếu tố sau: Tính hợp pháp sao cho phù hợp với các quy định của pháp luật, không trái luật; tính thực tiễn sao cho phù hợp với yêu cầu quản lý điều hành, phù hợp với hoạt động của tổ chức trong từng lĩnh vực cụ thể; tính hiệu quả nhằm tạo hành lang pháp lý cho tổ chức, góp phần tích cực vào công tác quản lý, điều hành cũng như toàn bộ hoạt động của tổ chức, khi được áp dụng phải được mọi người tôn trọng và quán triệt thực thi. Việc ban hành quy chế thông qua các trình tự thủ tục như sau: Soạn thảo quy chế phải có chương, điều, khoản, điểm…Điều này tùy thuộc vào nội dung, tầm quan trọng, tính phức tạp và độ dài của quy chế, không bắt buộc mọi quy chế phải tuân thủ triệt để. Phó Tổng giám đốc muốn tạo một format chuẩn thì cũng tốt, nhưng thực tế hoạt động sẽ điều chỉnh cho thuận lợi còn pháp luật không bắt buộc; Quy chế phải do Hội đồng quản trị ký ban hành: Tùy theo quyền hạn, nghĩa vụ của Tổng giám đốc hoặc Hội đồng quản trị được quy định trong Điều lệ công ty, sẽ phân định thẩm quyền ban hành hay phê duyệt ban hành các quy chế, quy định trong công ty. Như thế, mới thể hiện đầy đủ thẩm quyền của Tổng giám đốc và Ban giám đốc trong quản lý, điều hành hoạt động doanh nghiệp; Ngày ban hành quy chế, quy định kể từ ngày ban hành.
Như đã trình bày ở trên, chúng ta đã biết quy chế là những quy phạm liên quan đến chế độ chính sách của công ty, doanh nghiệp, công tác nhân sự, công tác tổ chức hoạt động, phân cấp nhiệm vụ, định mức, quyền hạn, đơn giá áp dụng. Khi đưa ra quy chế cần phải đưa ra yêu cầu cần đạt được và có tính định khung, mang tính nguyên tắc và bắt buộc những nhân viên, những người có liên quan thực hiện theo đúng quy chế đặt ra. Đã có rất nhiều người nhầm lẫn giữa hai khái niệm quy chế và quy định. Một số ví dụ cụ thể về quy chế, quy định để đơn giản hóa khái niệm như sau:
Ví dụ, về những quy chế trong công ty để có những quy chế về cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành. Quy chế này là do những người có nhiệm vụ trong công ty ban hành và đưa ra, cũng có thể đây là những quy chế do hội đồng quản trị ban hành. Để công ty hoạt động chuyên nghiệp thì công ty đó sẽ đề ra rất nhiều quy chế như quy chế lương, quy chế thưởng, quy chế bảo mật thông tin khách hàng, quy chế về tài chính… mỗi phòng ban trong công ty sẽ có những quy chế cụ thể, áp dụng cho từng đối tượng và vị trí. Và đặc biệt những quy chế này không được trái pháp lua là điều đầu tiên mà người lập quy chế cần phải quan tâm. Còn quy định của công ty dưới đây là những quy định cụ thể của từng công ty. Ví dụ như công ty có quy định về thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, thời gian làm thêm giờ, tất cả những thông tin này đều là những thông tin về quy định mà trước khi bạn vào làm một công ty đều có những thông báo để nhân viên nắm bắt được tình hình để từ đó không mắc vào những quy định này.
Như vậy, với những người lập ra quy định, quy chế trong công ty, doanh nghiệp thì không nên nhầm lẫn giữa khái niệm, vậy quy định là quy phạm định ra những công việc, nhiệm vụ phải làm, không được làm hoặc hướng dẫn thực hiện quy định của quy phạm pháp luật, những điều quy chế của doanh nghiệp, những điều lệ của doanh nghiệp. Quy định chứa đựng những nội dung hướng dẫn cụ thể về chuyên môn, nghiệp vụ phục vụ cho công tác điều hành của doanh nghiệp. Là bởi quy định là văn bản quy phạm định hướng ra các công việc phải làm, không được làm, thực hiện đúng theo quy định của quy phạm pháp luật nên uy định sẽ có nội dung cụ thể về chuyên môn, nghiệp vụ phục vụ cho việc điều hành của cơ quan, tổ chức.hạm pháp hay không? Hay cả 2 đều bị phạm pháp.
Xin trân trọng cảm ơn!
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)