Trả lời:

Trong quan hệ nhượng quyền thương mại, tồn tại hai chủ thể, đó là bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Do nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại đặc thù, vì vậy, hầu hết các nước đều quy định chủ thể của quan hệ nhượng quyền phải là thương nhân, tồn tại hợp pháp, có thẩm quyền kinh doanh và có quyền hoạt động thương mại phù họp với đối tượng được nhượng quyền. Những đặc trưng về chủ thể này của hợp đồng nhượng quyền thương mại làm cho hợp đồng nhượng quyền thương mại có những tính chất khác biệt so với các loại hợp đồng khác. Đặc biệt, quan hệ nhượng quyền không chỉ dừng lại giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, đôi khi, trong quan hệ này còn xuất hiện thêm bên nhận quyền thứ hai. Theo đó, bên nhận quyền thứ hai là bên nhận lại quyền kinh doanh thương mại của bên nhượng quyền từ bên nhận quyền thứ nhất. Trong trường hợp này, các bên lại phải có những thỏa thuận, ứng xử phù hợp với quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các bên, nhất là bên nhượng quyền. Như vậy, dưới góc độ pháp luật, bên nhượng quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại là thương nhân cấp quyền thương mại, bao gồm cả bên nhượng quyền thứ nhất và bên nhượng lại quyền. Bên nhận quyền là thương nhân nhận quyền thương mại để khai thác, kinh doanh, bao gồm cả bên nhận quyền thứ nhất (bên nhận quyền sơ cấp) và bên nhận quyền thứ hai (bên nhận quyền thứ cấp).

Đối với Việt Nam, pháp luật thương mại cũng đã ghi nhận các đối tượng cố thể trở thành chù thể của một quan hệ nhượng quyền thương mại, bao gồm: bên nhượng quyền, bên nhận quyền, bên nhượng quyền thứ cấp, bên nhận quyền sơ cấp và bên nhận quyền thứ cấp (Khoản 1,2, 3,4,5 Điều 3 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP) . Theo đó, hoạt động nhượng quyền thương mại có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức. Ở hình thức cơ bản nhất, tồn tại các bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Tuy nhiên, ở hình thức phức tạp hơn, các bên nhận quyền sơ cấp được thực hiện việc nhượng lại quyền thương mại cho các bên nhận quyền thứ cấp và trở thành bên nhượng quyền thứ cấp. Quy định này đáp ứng được tính đa dạng với nhiều biến thể mà hoạt động nhượng quyền thương mại chứa đựng.

Ngoài ra, pháp luật về nhượng quyền thương mại của Việt Nam cũng có những quy định cụ thể về điều kiện đối với các thương nhân thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại và đó cũng chính là những điều kiện về mặt chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại. Pháp luật Việt Nam quy định về điều kiện kinh doanh nhượng quyền thương mại đối với bên nhượng quyền trong hoạt động nhượng quyền thương mại (Điều 5 Nghị định số 35/2006/NĐ-CP). Theo đó, thương nhân nhượng quyền thương mại chỉ được phép cấp quyền thương mại, khi đáp ứng đủ một điều kiện duy nhất là hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã hoạt động được ít nhất 01 năm.

Như vậy, quy định của pháp luật hiện hành đã có sự “nới lỏng” hơn so với pháp luật thời kì trước. Nếu như tại Nghị định số 35/2006/NĐ-CP, bên cạnh quy định buộc thương nhân nhượng quyền thương mại phải có hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền hoạt động được ít nhất 01 năm thì còn phải đáp ứng điều kiện như đã đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ quan có thẩm quyền theo quy định (Sở Thương mại (nay là Sở Công Thương) đối với hoạt động nhượng quyền thương mại mang tính nội địa; Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) đối với hoạt động nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài) và hàng hoá, dịch vụ kinh doanh thuộc đối tượng của quyền thương mại, không thuộc danh mục hàng hoá cấm kinh doanh, nếu thuộc danh mục hàng hoá kinh doanh có điều kiện thì phải đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Những điều kiện này đặt ra đối với thương nhân nhượng quyền khá khắt khe và phức tạp. Việc lược bỏ các quy định đối với thương nhân nhượng quyền thương mại đã giúp quy định của pháp luật Việt Nam tương đồng hơn với pháp luật của các quốc gia trên thế giới, theo đó, những yêu cầu về mặt pháp lý đối với bên nhượng quyền thông thường được nhấn mạnh ở các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, pháp luật của hầu hết các nước đều yêu cầu tư cách thương nhân đối với các bên tham gia ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại. Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật này không đặt ra các điều kiện về

hình thức thương nhân đối với bên nhượng quyền thương mại, song trong các quy định cụ thể, có khẳng định các thuật ngữ “thương nhân nhượng quyền” và “thương nhân nhận quyền” - Điều 288 và Điều 289 Luật Thương mại năm 2005.

Thứ hai, thời gian hoạt động của bên nhượng quyền trong lĩnh vực dự định sẽ nhượng quyền phải đảm bảo một khoảng thời gian luật định.

Bên cạnh đó, việc pháp luật thương mại lược bỏ quy định điều kiện “có đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp với đối tượng của quyền thương mại” đối với thương nhân nhận quyền là phù họp với hệ thống pháp luật doanh nghiệp hiện hành. Theo đó, pháp luật doanh nghiệp quy định doanh nghiệp được phép thay đổi ngành, nghề kinh doanh trước và thực hiện thông báo thay đổi, bổ sung trong thời gian 10 ngày làm việc kể từ ngày có thay đổi (Khoản 1, 2 Điều 32 Luật Doanh nghiệp và khoản 4 Điều 49 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP). Chính vì vậy, tại thời điểm nhượng quyền thương mại, việc bắt buộc bên nhận quyền có đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp với đối tượng của quyền thương mại là không cần thiết. Pháp luật hiện hành chỉ quy định bên nhận nhượng quyền phải là thương nhân. Quy định này so với pháp luật hầu hết của các nước trên thế giới lại có phần “nới lỏng” hơn. Cụ thể, để đảm bảo cho hoạt động nhượng quyền thương mại diễn ra một cách an toàn và hiệu quả, thông thường, pháp luật thương mại của các nước đều đặt ra những yêu cầu nhất định đối với bên nhận quyền trong quan hệ nhượng quyền thương mại, bao gồm các điều kiện:

- Bên nhận quyền phải tồn tại dưới một tên thương mại riêng, xác định một tư cách pháp lý hoàn toàn độc lập với bên nhượng quyền, mặc dù, để bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ tói người tiêu dùng, bên nhận quyền phải sử dụng các dấu hiệu tập hợp khách hàng, nhận biết thương nhân, trong đó bao gồm cả tên thương mại của bên nhượng quyền. Khi xem xét về hợp đồng nhượng quyền thương mại, pháp luật thương mại Australia đã nhấn mạnh về đặc trưng chủ thể của bên nhận quyền, đó là bên hành động dưới tên thương mại riêng và trực tiếp chịu rủi ro với hoạt động kinh doanh do bên này tiến hành (acting in his own name and at his own risk). Như vậy, bên nhận quyền là bên được xác định dưới tư cách chủ thể pháp lý độc lập với bên nhượng quyền, chịu mọi rủi ro trong hoạt động kinh doanh của chính mình, không phụ thuộc vào bên nhượng quyền. Khi điều kiện này được đáp ứng, sự lạm dụng hợp đồng nhượng quyền thương mại vào các mục đích khác của doanh nghiệp, như thuê mướn lao động không ký hợp đồng lao động và trả tiền bảo hiểm, sẽ được ngăn chặn hiệu quả.

- Bên nhận quyền phải tồn tại dưới hình thức pháp lý nhất định. Để đảm bảo cho hệ thống nhượng quyền phát triển và không bị phá vỡ bởi bất kì một bên nhận quyền nào trong một loạt các bên nhận quyền đã ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại, pháp luật một số nước quy định bên nhận quyền phải có đủ năng lực chủ thể (một trong những dấu hiệu nhận biết chủ thể nhận quyền có đủ năng lực pháp lý, đó là chủ thể này phải tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp). Có thể nói, việc quy định những điều kiện nhất định đối với bên nhận quyền cũng chính là một trong những biện phâp hạn chế rủi ro cho bên nhượng quyền. Pháp luật thương mại Việt Nam không quy định điều kiện bắt buộc về hình thức tồn tại cho bên nhận quyền. Điều này có phần phù hợp với điều kiện của Việt Nam tại thời điểm ban hành Luật Thương mại năm 2005, bởi trên thực tế, hầu hết các “quyền thương mại” được nhượng ở Việt Nam chủ yếu chỉ được thiết lập dưới các dạng nhà hàng, quán ăn nhanh với quy mô tương đối nhỏ hẹp, nằm trong khả năng có thể điều khiển được của hộ kinh doanh cá thể, thậm chí là cá nhân kinh doanh. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, quy định về điều kiện đối với bên nhận quyền cần phải có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tể phát triển hoạt động nhượng quyền một cách vô cùng phong phú về lĩnh vực, với quy mô ngày một lớn và mang tính chuyên nghiệp tại Việt Nam.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)