Luật sư tư vấn:

Vấn đề Bạn quan tâm, Luật Minh Khuê xin trao đổi như sau:

Hình thức văn bản, với ý nghĩa là những biểu hiện bên ngoài của giao dịch vay, được pháp luật quy định tương đối cụ thể rõ ràng trong các định nghĩa về hợp đồng cho vay trước đây cũng như hiện nay, làm cơ sở cho các bên thực thi. Các quy định hiện nay còn đặt ra các biện pháp chế tài phạt hành chính với mức phạt từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, nếu tổ chức tín dụng không tuân thủ quy định này (điểm a khoản 5 Điều 14 Nghị định số 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (Nghị định số 88/2019/NĐ-CP)). Hình thức chế tài hành chính này (giữa Nhà nước với tổ chức tín dụng) có những khác biệt với chế tài vi phạm hợp đồng (giữa tổ chức tín dụng với khách hàng vay), do các bên tự điều tiết, thực hiện. Đây được xem là biện pháp can thiệp hữu hiệu của nhà nưôc để duy trì trật tự trong hoạt động cho vay, áp dụng riêng đối với tổ chức tín dụng để bảo đảm trách nhiệm tuân thủ nghiêm túc pháp luật.

Khác với các giao dịch dân sự thông thường, các bên có thể xác lập giao dịch vay dưối bất kỳ hình thức nào, miễn là có chứng cứ chứng minh (trừ một số giao dịch có đối tượng đặc thù phải qua đăng ký quyền sở hữu tài sản hoặc có yếu tố nước ngoài,...), làm cơ sở yêu cầu các bên thực thi hợp đồng. Trong lĩnh vực ngân hàng, tổ chức tín dụng với tư cách là chủ thể kinh doanh với những đặc thù như được phân tích, các giao dịch vay bắt buộc phải được xác lập thành văn bản, để thực hiện theo đúng tiến độ ghi trong bản hợp đồng đó, tiến hành công tác quản trị, kiểm soát rủi ro theo từng điều khoản cam kết. Vì vậy, hình thức hợp đồng cho vay phải lập thành văn bản được ghi nhận khá cụ thể không chỉ riêng trong luật Việt Nam, mà còn thấy cả trong thực tiễn giao kết hợp đồng vay ở các nước trên thế giới.

Về phương diện lý luận, các tổ chức tín dụng có quy mô kinh doanh lớn, năng lực ở các chi nhánh khác nhau (hoạt động cấp tín dụng chủ yếu tập trung ở các chi nhánh, chỉ những khoản vay lớn mới được sự chấp thuận của lãnh đạo hội sở), vì vậy, việc ban hành mẫu hợp đồng chung áp dụng cho các đơn vị phụ thuộc một ngân hàng để bảo đảm an toàn, là phù hợp với những đặc thù của dạng hợp đồng này. Những yêu cầu về hình thức văn bản còn có ý nghĩa đối với tổ chức tín dụng như sau: hạn chế đến mức thấp nhất hợp đồng bị vô hiệu do vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền lợi cho các bên khi giao kết; tránh những sai sót khi áp dụng các biện pháp bảo đảm; các tổ chức tín dụng tập trung vào nghiệp vụ cho vay, thay vì phải đi sâu tìm hiểu kỹ thuật soạn thảo hợp đồng, làm mất đi những cơ hội kinh doanh không cần thiết. Do vậy, chỉ có hình thức văn bản được các bên thỏa thuận chi tiết là cơ sơ pháp lý duy nhất để bảo đảm cho các quyền và nghĩa vụ hợp đồng được thực hiện đúng.

Về phương diện quan hệ hợp đồng, các bên hoàn toàn có thể đàm phán sửa đổi hợp đồng phù hợp với nhu cầu thực tiễn, không bị ai ép buộc. Trên các mẫu hợp đồng cho vay do tổ chức tín dụng phát hành thông thường đểu có ghi: “Do ngân hàng và bên vay cùng lập” (- Xem: Hợp đồng tín dụng số 6140-LAV-201100752 ngày 11/02/2011 ký giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh HM với Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại Cao su TC) nhưng thực tế, với đặc thù trên, khách hàng không tránh khỏi bị các tổ chức tín dụng “dẫn dắt” khi ký kết những bản hợp đồng cho vay được soạn thảo sẵn. Hậu quả là, các Tòa án thường dựa vào những thỏa thuận ghi trong hợp đồng cho vay để tuyên những phán quyết có lợi cho các tổ chức tín dụng mà không biết rằng, trong từng điều khoản của hợp đồng cho vay có những thỏa thuận không bình đẳng, nếu áp dụng sẽ gây thiệt hại đáng kể về quyền lợi đối với bên vay.

Trong quan hệ cho vay tiêu dùng, quy định về hình thức của dạng hợp đồng này phải được xây dựng dựa trên cơ chế pháp lý phù hợp với đối tượng tiêu dùng nói chung (dưới hình thức văn bản, điều khoản chung, hợp đồng theo mẫu) để bảo đảm quyền lợi bình đẳng tối thiểu của bên vay tiêu dùng. Điều 2 Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg ngày 20/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ trước đây đã bổ sung các danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, trong đó có hoạt động vay vốn cá nhân nhằm mục đích tiêu dùng. Quy định đã khẳng định về bản chất của một dạng hợp đồng nhằm cung ứng các dịch vụ thiết yếu, làm cơ sở hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cho vay tiêu dùng mẫu về sau quy chuẩn hơn.

Tóm lại, sự tồn tại của hợp đồng cho vay bằng văn bản là nhân tố tất yếu khách quan, xuất phát từ những yêu cầu an toàn cho vay đòi hỏi cần có hình thức pháp lý rõ ràng, cụ thể nhất thể hiện đầy đủ ý chí, quyền lợi bình đẳng hợp đồng giữa các bên. Thông tư số 39/2016/TT-NHNN tiếp tục kế thừa những ưu điểm trong các quy định của pháp luật trước đây, duy trì quy định hình thức của hợp đồng cho vay phải được lập thành văn bản là phù hợp với đặc thù của quan hệ tín dụng, đáp ứng các nhu cầu cần thiết của quan hệ hợp đồng vay.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hoạt động vay vốn, giải ngân vốn... Quý khác hàng vui lòng gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng, tài chính trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.