1. Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ nào được hưởng chính sách nào được vay vốn ưu đãi?

Theo các chính sách và nghị định của Chính phủ, các dự án đầu tư sản xuất công nghiệp hỗ trợ sẽ được hưởng các ưu đãi về thuế và đất đai. Cụ thể:
- Được hưởng thuế suất ưu đãi thu nhập doanh nghiệp 10 - 17% trong 15 năm, tùy theo địa bàn đầu tư.
- Được Nhà nước hỗ trợ giá thuê đất, ưu đãi 50% chi phí thuê đất trong các khu công nghiệp.
- Có thể được giảm 30 - 50% thuế TNDN theo Nghị định 218 và điều kiện ngành nghề, khu vực đầu tư.
- Có khả năng được hoàn thuế TNDN nếu đáp ứng các điều kiện về sử dụng lao động, đầu tư vào địa bàn khó khăn.
Nhờ các ưu đãi về thuế và chi phí đầu tư ban đầu thấp, các nhà đầu tư sẽ có động lực lớn hơn để đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ. Điều này sẽ góp phần phát triển ngành công nghiệp quan trọng này của Việt Nam.
Cụ thể, Nghị định số 57/2021/NĐ-CP quy định các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp bằng 17% trong 15 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế. Nếu thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, thuế suất ưu đãi còn 10% trong suốt thời gian hoạt động.
Bên cạnh đó, các dự án này cũng được Nhà nước hỗ trợ đất đai, cho thuê đất trong các khu công nghiệp. Mức giá thuê đất ưu đãi có thể rẻ hơn một nửa so với bình thường.
Ngoài các ưu đãi dành riêng cho công nghiệp hỗ trợ, các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm này còn được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp chung theo Nghị định số 218/2013/NĐ-CP.
Theo đó, tùy theo khu vực và ngành nghề đầu tư, doanh nghiệp có thể được giảm 30 - 50% số thuế TNDN phải nộp. Những doanh nghiệp công nghệ cao, sử dụng nhiều lao động có thể giảm tới 70% thuế TNDN.
Đồng thời, Nghị định 218 cũng cho phép doanh nghiệp hoàn thuế TNDN nếu đáp ứng điều kiện đầu tư lớn, sử dụng nhiều lao động, đầu tư vào địa bàn khó khăn. Số thuế được hoàn có thể lên tới toàn bộ số thuế TNDN đã nộp.
Như vậy, việc kết hợp các chính sách ưu đãi thuế TNDN cùng các chính sách ưu đãi riêng cho công nghiệp hỗ trợ sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho các nhà đầu tư. Đây chính là động lực để thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, góp phần phát triển ngành công nghiệp quan trọng này của Việt Nam.

Theo Điều 4 Thông tư 01/2016/TT-NHNN quy định về Nguyên tắc cho vay như sau:

- Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển được áp dụng chính sách cho vay nêu tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 3 Thông tư này là các dự án đã được xác nhận ưu đãi theo quy định tại Điều 11 Nghị định 111/2015/NĐ-CP.

- Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài xem xét, thẩm định, quyết định cho vay đối với Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển nêu tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 3 Thông tư này theo quy định hiện hành của pháp luật và tự chịu trách nhiệm về quyết định cho vay của mình.

Dẫn chiếu theo khoản 1 Điều 11 Nghị định 111/2015/NĐ-CP quy định về Đối tượng và thủ tục xác nhận ưu đãi như sau:

-  Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển: Bao gồm dự án đầu tư mới, dự án mở rộng và đổi mới công nghệ có ứng dụng thiết bị mới, quy trình sản xuất mới, sản xuất sản phẩm với năng lực sản xuất tăng ít nhất 20%.

Theo đó, Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 111/2015/NĐ-CP là các dự án đáp ứng yêu cầu được áp dụng chính sách cho vay ưu đãi phát triển công nghiệp hỗ trợ.

2. Chính sách cho vay ưu đãi đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển được quy định ra sao?

Theo Điều 3 Thông tư 01/2016/TT-NHNN quy định về Chính sách cho vay đối với Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển như sau:

- Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài áp dụng lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam đối với phần vốn vay ngắn hạn phục vụ cho Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển không vượt quá mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ một số lĩnh vực, ngành kinh tế do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định trong từng thời kỳ.

- Doanh nghiệp nhỏ và vừa khi vay vốn tại các tổ chức tín dụng trên cơ sở bảo lãnh của các tổ chức bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định để đầu tư Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển, ngoài chính sách ưu đãi cho vay tại Khoản 1 Điều này còn được các tổ chức tín dụng xem xét cho vay tối đa 70% vốn đầu tư khi đáp ứng các điều kiện quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 12 Nghị định 111/2015/NĐ-CP.

Theo đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa khi vay vốn tại các tổ chức tín dụng trên cơ sở bảo lãnh của các tổ chức bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định để đầu tư Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển, ngoài chính sách cho vay ưu đãi trên còn được các tổ chức tín dụng xem xét cho vay tối đa 70% vốn đầu tư khi đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 12 Nghị định 111/2015/NĐ-CP, cụ thể:

+ Có tổng giá trị tài sản thế chấp, cầm cố tại tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật tối thiểu 15% giá trị khoản vay, sau khi đã loại trừ giá trị tài sản cầm cố, thế chấp cho các khoản vay khác;

+ Có tối thiểu 20% vốn chủ sở hữu tham gia dự án đầu tư, sau khi trừ số vốn chủ sở hữu thu xếp cho các dự án khác;

+ Tại thời điểm đề nghị bảo lãnh, không có các khoản nợ đọng nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, nợ xấu tại các tổ chức tín dụng hoặc tổ chức kinh tế khác.

3. Những tổ chức nào thực hiện bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển?

Theo Điều 5 Thông tư 01/2016/TT-NHNN quy định về Tổ chức bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn như sau:

Tổ chức bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn nêu tại Khoản 2 Điều 3 Thông tư này bao gồm:

- Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập và hoạt động theo quy định tại Quyết định số 58/2013/QĐ-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa;

- Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện bảo lãnh theo Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại ngân hàng thương mại;

- Các tổ chức khác được phép thực hiện bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.

Theo đó, các tổ chức sau đây thực hiện bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển, cụ thể như sau:

+ Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thành lập và hoạt động theo quy định tại Nghị định 34/2018/NĐ-CP;

+ Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện bảo lãnh theo Quyết định 03/2011/QĐ-TTg;

+ Các tổ chức khác được phép thực hiện bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.

>>> Xem thêm: Chính sách cho vay đối với Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển

Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê, hy vọng bài viết đã mang đến thông tin hữu ích cho bạn đọc. Nếu có bất cứ thắc mắc nào liên quan đến bài viết hay có nhu cầu được tư vấn pháp luật, xin vui lòng liên hệ hotline 1900.6162 hoặc email lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ tốt nhất.