Luật sư tư vấn:

Vấn đề Bạn quan tâm, Luật Minh Khuê xin trao đổi như sau:

 

1. Nghĩa vụ cung cấp thông tin tín dụng là gì ? 

Nghĩa vụ cung cấp thông tin tín dụng giữ vị trí quan trọng trong quan hệ hợp đồng cho vay. Xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm tính minh bạch, trung thực được các nhà làm luật đề cao, đồng thời để đạt được hiệu quả mục đích kinh tế, dân sự mà các bên hướng đến. Trên lý thuyết, chỉ có việc nắm bắt thông tin tín dụng đầy đủ và kịp thời mới làm tăng khả năng đánh giá mức độ hiệu quả, dự đoán rủi ro có thể xảy ra, nhất là các lĩnh vực liên quan đến hoạt động tài chính vốn dĩ chịu sự kiểm soát chặt chẽ, bảo mật cao của chính các doanh nghiệp (Ví dụ: Trong giao dịch mua bán chứng khoán, pháp luật đặt ra nguyên tắc công khai, minh bạch để bảo vệ quyền và lợi ích của các nhà đầu tư).

Trong lĩnh vực ngân hàng, các quy định điều chỉnh hoạt động cho vay cũng có những quy định tương tự. Nghĩa vụ cung cấp thông tin là khái niệm rộng được đề cập tương đối cụ thể, có ý nghĩa quan trọng, giúp các bên trong hợp đồng hiểu biết đầy đủ các công việc phải thực hiện, tằng cường mức độ tín nhiệm lẫn nhau. Quy định này được liên tục kế thừa, khẳng định những ưu điểm nhất định trong việc minh bạch, tự do lựa chọn thị trường tín dụng.

 

2. Nghĩa vụ đối với bên cho vay

Tổ chức tín dụng với tư cách là bên cho vay phải thông tin đầy đủ về sản phẩm, chất lượng tín dụng mình cung cấp, giúp người vay được lựa chọn sản phẩm vay phù hợp trên thị trường. Sau khi ký kết hợp đồng cho vay, tổ chức tín dụng có trách nhiệm cập nhật, cung cấp cho bên vay kịp thời, đầy đủ những thông tin như sau: thông tin về tiền vay gốc và lãi, các khoản phí; thông tin năng lực của người đại diện giao dịch với bên vay; thông tin về quá trình quản lý, sử dụng tài sản bảo đảm; các chính sách, quy định nội bộ của tổ chức tín dụng đối với khoản vay được cấp. Nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác không chỉ đơn thuần là vấn đề nghiệp vụ, pháp lý nhằm giúp bên vay biết rõ phạm vi, trách nhiệm của mình mà còn là biểu hiện sự tôn trọng của bên cho vay đối với bên vay, giúp bên vay có những giải pháp hỗ trợ thiết thực, cần thiết.

Thực tiễn ký kết hợp đồng cho vay lâu nay, nghĩa vụ cung cấp thông tin đối với tổ chức tín dụng không được đặt ra. Nguyên nhân, với tư cách là bên thế mạnh, chủ động soạn thảo hợp đồng cho vay, tổ chức tín dụng loại bỏ, không đưa nghĩa vụ này vào điều khoản hợp đồng vay để thực thi. Bên vay cũng chưa ý thức đầy đủ quyền lợi chính đáng của mình khi vận dụng, bổ sung quy định về nghĩa vụ này đối với tổ chức tín dụng trong thực tiễn.

Pháp luật hiện hành quy định cụ thể nghĩa vụ của tổ chức tín dụng cung cấp thông tin trước khi xác lập thỏa thuận cho vay. Đó là các thông tin về lãi suất, phương pháp tính lãi, phí (khoản 1 Điều 16 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN). Quy định mới này như một nỗ lực của các nhà làm luật trong việc nâng cao trách nhiệm của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, làm bình đẳng hơn các quyền lợi hợp đồng vay. Với quy định trên, kể cả khi các bên không thỏa thuận ghi trong các điều khoản của hợp đồng cho vay, bên vay vẫn có thể yêu cầu bên cho vay nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ đã được luật định. Thực tiễn, các tổ chức tín dụng thường lập các “khế ước nhận nợ” ghi nhận đầy đủ nội dung về khoản tiền vay, lãi suất, phí tín dụng được bên vay ký xác nhận. Hành vi này làm phát sinh các vấn đề pháp lý như sau: Khế ước nhân nợ được hình thành như một phụ lục hợp đồng, khi đó công tác cung cấp thông tin được các nhà làm luật đặt ra thay vì là nghĩa vụ, nay được các tổ chức tín dụng thay bằng một văn bản thỏa thuận mới ghi rõ thông tin khoản tiền vay, lãi suất. Vô hình trung, cách làm này gây bất lợi đối với bên vay nếu nội dung thỏa thuận của khế ưổc đó không rõ ràng, có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau.

Về chế tài xử lý vi phạm, các quy định điều chỉnh hoạt động cho vay ngân hàng hiện hành đặt ra biện pháp xử phạt hành chính nếu tổ chức tín dụng không thực hiện ngay yêu cầu đính chính của bên vay về những sai sót phát sinh do quá trình xử lý thông tin (Điều 22 Nghị định số 88/2019/NĐ-CP). Quy định này làm cho nghĩa vụ cung cấp thông tin (đối với tổ chức tín dụng) nhằm mục đích duy trì trật tự trong hoạt động cho vay chưa cụ thể hóa như một nghĩa vụ hợp đồng, với các chế tài cân xứng để bảo đảm quyền lợi bên vay. Thật vậy, khác với hành vi trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các tổ chức tín dụng như một kênh thông tin nhằm làm sáng tỏ thêm năng lực của người vay (khoản 3, Điều 13 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010), nghĩa vụ cung cấp thông tin trong hợp đồng cho vay gắn liền với các chế tài do thông tin không đầy đủ, không đúng sự thật. Các tổ chức tín dụng phải có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin được cung cấp xuất phát từ quyền nhân thân của cá nhân, quyền sở hữu trí tuệ, bí mật kinh doanh của doanh nghiệp, cá nhân được pháp luật bảo hộ,... bảo vệ lợi ích của bên vay hoặc những người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

Không chỉ có riêng ở pháp luật Việt Nam, nghĩa vụ về bảo mật thông tin khách hàng còn được đề cập trong thực tiễn tranh chấp đối với ngân hàng ở các nước. Phán quyết của tòa án đã tuyên buộc một ngân hàng Anh phải chịu trách nhiệm với bên vay vì để lộ bí mật thông tin (Vụ kiện giữa Tournier V National Provincial - Union Bank of England [1924] 1 KB 461, Tòa kháng án Anh (Court of Appeal) tuyên bố nhân viên ngân hàng phải có nghĩa vụ giữ bí mật công việc của bên vay), như một tiền lệ, đặt ra trách nhiệm đối với tổ chức tín dụng tự thiết lập cơ chế bảo mật các thông tin khách hàng cung cấp. Hơn thế nữa, việc làm này còn là năng lực, uy tín, trách nhiệm của ngân hàng với khách hàng và cộng đồng xã hội (Để nắm rõ thông tin bên vay có quan hệ tín dụng, pháp luật đặt ra Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) với chức năng thu nhận, lưu trũ, phân tích, xử lý, dự báo thông tin tín dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước; thực hiện các dịch vụ thông tin ngân hàng theo quy định pháp luật của Ngân hàng Nhà nước; cung cấp thông tin lịch sử về khoản vay góp phần giúp các chia sẻ thông tin, nắm được tình trạng sức khỏe của khách hàng trước khi cho vay).

Như vậy, pháp luật điều chỉnh quan hệ cho vay trong hoạt động ngân hàng đã tăng cường hơn trách nhiệm cung cấp thông tin tín dụng đối với bên cho vay, phù hợp với thông lệ và thực tiễn tài phán, kinh nghiệm các nước. Tuy vậy, nghĩa vụ này vẫn chưa ràng buộc trách nhiệm của bên cho vay nhằm bảo đảm quyền lợi của bên vay được cân xứng. Đây là điểm hạn chế trong các quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin, theo tác giả cần sớm được các nhà làm luật quan tâm sửa đổi, bằng các biện pháp chế tài cụ thể trong trường hợp bên cho vay có hành vi vi phạm, gây thiệt hại cho bên vay.

 

3. Nghĩa vụ đối với bên vay

Để khoản vay được chấp thuận, bên vay phải cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin về chủ thể, dự án đầu tư - kinh doanh có sử dụng vốn vay (đối với dự án đầu tư), thông tin pháp lý về tài sản bảo đảm... Không những thế, nghĩa vụ này được đặt ra xuyên suốt quá trình thực hiện hợp đồng cho vay như một điều kiện bắt buộc để bên vay được giải ngân theo tiến độ của hợp đồng. Pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ này còn đề cập công tác thẩm định tín dụng để tổ chức tín dụng nắm bắt những thông tin cần thiết và chính xác, khách quan về bên vay, đánh giá khả năng tài chính, hiệu quả của hồ sơ vay. Tương tự những quy định ưu việt của các quốc gia theo hệ thống thông luật, nhất là đối với thông tin về cho vay tiêu dùng (Mục 19 của Nghị định số 2008/48/EC của Nghị viện châu Âu và Hội đồng Liên minh châu Âu ngày 23/4/2008 về hợp đồng tín dụng tiêu dùng; Mục 3 Luật về Tài chính tiêu dùng và Hợp đồng tín dụng Niu Dilân - Credit Contracts and Consumer Finance Act 2003).

Về trách nhiệm pháp lý, các nhà làm luật đã chú trọng, ban hành những quy định buộc bên vay phải tuân thủ bằng các biện pháp chế tài vi phạm hợp đồng như: chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn (khoản 1 Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN). Bên vay vay vốn nhằm thực hiện các mục tiêu tài chính của mình, trường hợp tổ chức tín dụng chấm dứt cho vay trước thời hạn, họ sẽ gặp những khó khăn, trồ ngại nhất định. Khoản vay khi đó trở thành nợ của bên vay, tổ chức tín dụng được quyền áp dụng các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Nếu khoản nợ bên vay chậm trả tại thời điểm tổ chức tín dụng ban hành quyết định thu hồi nợ, hậu quả pháp lý như thế nào, pháp luật hiện hành vẫn chưa quy định cụ thể, nên dễ gây nhầm lẫn khi áp dụng.

Trên thực tế, mỗi tổ chức tín dụng đều nhận thức ý nghĩa của nghĩa vụ này đối với khách hàng đã đặt ra các yêu cầu cung cấp thông tin, đặt ra những tiêu chí về mức độ quan trọng của thông tin cần được cung cấp khác nhau:

Cẩm nang tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần NTVN (công bố vào năm 2004) tại tiểu mục 7.6.2 nêu lên chi tiết các thông tin ngân hàng cần nắm bắt khi tiếp xúc trực tiếp với bên vay là doanh nghiệp: lịch sử hình thành doanh nghiệp; cơ cấu tổ chức; tình hình nhân sự (cán bộ công nhân viên, ban lãnh đạo, kê toán trưởng); thu nhập; mặt hàng sản xuất, kinh doanh chủ yếu; thị trường tiêu thụ chính/mạng lưới phân phối; đối thủ cạnh tranh chủ yếu; điểm mạnh/điểm yếu của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác cùng nghề... Cuốn cẩm nang này còn nêu cách thức tiếp cận thông tin:

“Nên tiếp xúc trực tiếp với lãnh đạo và kế toán trưởng của doanh nghiệp - là những người biết rõ nhất nhiều loại mảng thông tin...”.

Đây được xem là kinh nghiệm giá trị, nhằm đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng được tổ chức tín dụng hệ thống hóa với những tiêu chuẩn khá chi tiết, giúp cho các đơn vị ngân hàng (chi nhánh, văn phòng đại diện) dễ dàng áp dụng vào thực tiễn khi phân loại khách hàng, thực hiện ưu đãi tín dụng, được các tổ chức tín dụng hiện nay quán triệt vận dụng (Ví dụ: Quyết định số 72A/NHNo3-TD ngày 10/01/2018 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Chi nhánh quận 3) có phân loại các tiêu chí xếp hạng tín dụng doanh nghiệp. Theo đó, quy định áp dụng về lãi suất đối với khách hàng xếp hạng tín dụng nội bộ loại A trỗ lên hoặc đang ở nhóm 1 có mức lãi suất thấp hơn các trường hợp cho vay thông thường khác, thay vì bằng một mức lãi suất cho cùng mọi đối tượng vay).

Tóm lại, thông tin tín dụng có ý nghĩa quan trọng giúp các tổ chức tín dụng nắm bắt tình trạng “sức khỏe” của bên vay. Nghĩa vụ này đối với bên vay được tiếp tục kế thừa trong các quy định trước đây, gắn với các chế tài cụ thể. Dù vậy, hậu quả pháp lý nếu bên vay không trả tiền vay khi bị chấm dứt cho vay (về lãi suất) do vi phạm nghĩa vụ này vẫn chưa được các quy định đề cập. Đối với bên cho vay, nghĩa vụ cung cấp thông tin tín dụng chỉ giới hạn ở khoản tiền vay, lãi suất, chưa ràng buộc trách nhiệm về những thiệt hại gây ra nếu cung cấp thông tin không kịp thời, chính xác. Vì vậy, thực trạng về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong quan hệ hợp đồng cho vay theo luật hiện nay, tác giả cho rằng vẫn chưa đầy đủ, chưa bảo đảm quyền lợi bên vay.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hoạt động vay vốn, giải ngân vốn... Quý khác hàng vui lòng gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng, tài chính trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.