1. Quy định chung về tòa án thương mại

Tòa án thương mại là tòa án đặc biệt gồm những thương nhân, doanh nhân được bầu ra; Tòa án này xử sơ thẩm những việc kiện thương mại và kinh doanh.
Việc kháng cáo do tòa phúc thẩm xử, và nếu có yêu cầu tái thẩm (pourvoi) vi phạm pháp luật thì đưa Tòa phá án xử. Tòa này chỉ gồm những thẩm phán chuyên nghiệp.

2. Lý do tồn tại của Tòa án thương mại

Tòa án thương mại đã có từ lâu. Tòa án thương mại đầu tiên được thành lập ở Pari theo một chiếu chỉ của nhà vua. Đã nhiều lần có ý kiến nên bãi bỏ những tòa án này. Do cách tổ chức, Tòa án thương mại vừa có những điều lợi vừa có những điều bất lợi.Cái lợi là các thủ tục đơn giản, nhanh chóng và ít tốn kém. Đồng thời thẩm phán là thương nhân, doanh nhân nên họ có đủ tư cách để áp dụng vào từng vụ tranh chấp những quy tắc và tập quán trong kinh doanh. Điều này rất quan trọng đối với công tác xét xử ở Tòa án thương mại
Ngược lại, do không phải là những chuyên gia pháp luật nên họ không đủ trình độ giải quyết những vụ kiện phức tạp. Vì vậy, họ thường căn cứ vào những lời khuyên của những trọng tài viên đồng thời  là thuyết trình viên do họ chỉ đính mặt khác, ở những tỉnh nhỏ là nơi mà mọi người đều biết nhau thì các thẩm phán đó có khi không giữ được sự độc lập xét xử cần thiết.
Mặc dầu có những ý kiến khác nhau, nhưng những văn bản cuối năm 1958 đưa ra những sửa đổi quan trọng về tổ chức tư pháp ở Pháp, vẫn duy trì Tòa án thương mại theo hình thức cũ. Trong khuôn khổ cải cách thủ tục tập thể một dự thảo luật cải cách về Tòa án thương mại đã được nghiên cứu từ nhiều năm nay.
Trước khi nghiên cứu về vấn đề này, chúng ta cần chú ý : "Hội đồng nghiên cứu những điều khoản lạm dụng" đã đề xuất về vấn đề tranh tụng tài tòa án, những khuyến nghị nhằm xóa bỏ trong các hợp đồng ký giữa những người chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp những điều khoản mà đối tượng hoặc hậu qủa là:
1. Cấm kiện tụng hoặc sử dụng những biện pháp kháng cáo, xét lại;
2. Buộc phải đưa ra trọng tài một tranh chấp chưa phát sinh;
3. Buộc phải thương lượng trước khi tiến hành kiện;
4. Buộc phải chấp nhận một thời hiệu đối với vụ kiện, hoặc rút ngắn thời hiệu do pháp luật quy định;
5. Vi phạm các quy định thẩm quyền về lãnh thổ hoặc thẩm quyền pháp luật quy định.
6. Miễn cho người chuyên nghiệp (thương nhân, doanh nhân) những thể thức do pháp luật quy định.
7. Buộc người không chuyên nghiệp, không phải là doanh nhân, thương nhân hoặc người tiêu thụ phải hoàn lại các chi phí và thù lao phát sinh từ vụ kiện.
8. Định trước một số tiền cố định phải hoàn lại đối với các chi phí phát sinh từ vụ kiện.

3. Tòa án thương mại ở địa phương

Số tòa án thương mại, trụ sở và phạm vi xét xử của mỗi Tòa án thương mại do sắc lệnh của Tham chính viên quy định.
Không phải ở địa phương nào cũng có tòa án thương mại . Ở những địa phương không có tòa án thương mại, những tranh chấp thuộc thẩm quyền cuả tòa án thương mại do tòa án dân sự thẩm quyền rộng xét xử theo thủ tục đặc biệt của tòa án thương mại. Hiện nay có 228 tòa án thương mại.

3.1. Thẩm phán

Mỗi tòa án thương mại có một chánh án và một số thẩm phán và thẩm phán dự khuyết với số lượng do sắc lệnh quy định.
Các thẩm phán tòa án thương mại không có lương chánh án và các thẩm phán đều được bầu ra.
a. Cử tri.
Theo sắc lệnh số 61-923, ngày 3-8-1961 được sưa đổi bằng sắc lệnh số 72-1162 ngày 22-12-1972, thì các thành viên của tòa án thương mại do những "đại cử tri" bầu ra. Những đại cử tri là: 
- Những đại biểu bầu các thành viên tòa án. Những đại biểu này do nhưng cử tri các Phòng thương mại bầu ra. Hai cuộc bầu nói trên tiến hành vào cùng một thời điểm.Nhiệm kỳ của các đại biểu là ba năm tù
- Những thành viên cũ và đương nhiệm của Tòa án thương mại và Phòng thương mại và công nghiệp thuộc phạm vi xét xử của, tòa án. Danh sách các đại cử tri do Hội đồng lập dánh sách cử tri các Phòng thương mại lập ra trong thời  hạn một tháng sau khi bầu những đại biểu được quyền bầu các đại cử tri.Việc bầu cử tiên hành mỗi năm một lần, tứ 1 đến 15 tháng sáu, ở địa phương tòa án có trụ sở.
b. Những người có thể được bầu.
Có thể đựợc bầu vào Tòa án thương mại:
- Những người được đăng ký vàó danh sách bầu cử của địa phương cộ ít nhất 30 tuổi và đã hành nghề ít nhất 5 năm;
- Những cử tri cũ không còn hoạt động nghê nghiệp, không còn làm nghề tự do hoặc nghề được ăn lương
Theo Sắc lệnh số 61-923 ngày 3-8-1961 thì điều kiện ứng cử vào Tòa án thương mại và vào Phòng thương mại và công nghiệp có khác nhau người đại diện một công ty ứng cử vào Tòa án thương mại phải  chứng minh đã hành nghề trong 5 năm, nhưng nếu người đại diện ứng cử vào một Phòng thương mại và công nghiệp thì không cần có điều kiện đó.
" Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (tiếng Anh: Vietnam Chamber of Commerce and Industry, viết tắt là VCCI)  ở đâyl à tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, chủ lao động và các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam.Hoạt động của VCCI nhằm mục đích phát triển, bảo vệ và hỗ trợ các doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và khoa học - công nghệ giữa Việt Nam với các nước trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi; đây cũng là một tổ chức độc lập, phi chính phủ (NGO), phi lợi nhuận, có tư cách pháp nhân và tự chủ về tài chính.Với nhiệm vụ là
Nghiên cứu ý kiến của các doanh nghiệp để phản ánh, kiến nghị và tham mưu cho Nhà nước các vấn đề về pháp luật, chính sách kinh tế - xã hội nhằm cải thiện môi trường kinh doanh;
Tham gia xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế
Tổ chức các diễn đàn, đối thoại giữa doanh nghiệp với các cơ quan Nhà nước với đại diện người lao động và với các tổ chức hữu quan khác ở trong và ngoài nước để trao đổi thông tin về các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp và môi trường kinh doanh;
Bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của doanh nghiệp trong các quan hệ kinh doanh trong nước và quốc tế;
Tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, nâng cao trách nhiệm xã hội, đạo đức và văn hóa kinh doanh, bảo vệ môi trường
Tập hợp và liên kết với các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam, hợp tác với các Phòng thương mại và công nghiệp, các tổ chức hữu quan khác ở nước ngoài
Xây dựng, quảng bá và nâng cao uy tín doanh nghiệp, doanh nhân, hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam; thúc đẩy các dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh doanh; hỗ trợ doanh nghiệp phát triển quan hệ kinh doanh và đầu tư ở trong và ngoài nước như: chắp mối và giới thiệu bạn hàng, cung cấp thông tin, hướng dẫn và tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu, khảo sát thị trường, hội thảo, hội nghị, hội chợ, triển lãm, quảng cáo và các hoạt động xúc tiến khác;
Tổ chức đào tạo bằng những hình thức thích hợp để phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp, giúp các doanh nhân nâng cao kiến thức, năng lực quản lý và kinh doanh;
Giúp đăng ký và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ ở Việt Nam và ở nước ngoài;
Cấp giấy chứng nhận xuất xứ cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam và chứng thực các chứng từ cần thiết khác trong kinh doanh; xác nhận các trường hợp bất khả kháng;
Giúp các doanh nghiệp trong và ngoài nước giải quyết bất đồng, tranh chấp thông qua thương lượng, hoà giải hoặc trọng tài; phân bổ tổn thất chung khi có yêu cầu."
c. Nhiệm kỳ.
Nhiệm, kỳ của các thẩm phán Tòa án thương mại, trử chánh án là hai năm, mỗi năm bầu lại một nửa.
Nhiệm kỳ của chánh án là ba năm , và trưốc đó phải là thẩm phán chính thức ba nắm.
Thẩm phán chính thức trước đó phải là thẩm phán dự khuyết ba năm.

3.2. Những người phục vụ công lý

a. Luật sư.
Các luật sư có thể đại diện cho các bên ở mọi tòa án, nhất là Tòa án thương mại; họ không cần giấy ủy nhiệm.Tại Tòa án thương mại, các bên không bắt buộc phải có luật sư như ở tòa án dân sự thẩm quyền rộng.
b.Cố vấn pháp luật.
Luật số 71-1130 ngày 31-12-1971 quy định nghề cố vấn pháp luật nhằm giúp cho các bên những đảm bảo mà họ có quyên đòi hỏi.
Họ có thể đại diện cho các bên tranh tụng tại Tòa án thương mại nhưng không được đại diện tại Tòa phúc thẩm.
c. Người trợ lý thanh toán tư pháp và thanh lý tài sản. 
Người này do Tòa án thương mại chọn trong một danh sách do Tòa thượng thẩm lập, căn cứ vào đề nghị của Tòa án thương mại nơi họ công tác (sắc lệnh ngày 20-5-1955 sửa đổi bằng sắc lệnh số 59-670 ngày 19-5-1959). Họ phải có một số điều kiện về tuổi, năng lực và đạo đức.Những người này được tập hơp trong một hiệp hội quốc gia. Hiệp hội bảo đảm trách nhiệm nghề nghiệp của các hội viên và bảo hiểm những rủi ro trong những trường hợp phải bồi thường thiệt hại.Tổ chức kế toán, những quy tắc về kỷ luật và chế độ thù lao được ấn định trong quy chế hành chính.
Trong thực tiễn, quy chế của nhưng trợ lý thanh toán tư pháp và thanh lý tài sản đã hoàn toàn thay đổi theo luật số 85-99 về những người quản trị tư pháp, những người được ủy nhiệm thanh lý tài sản và những giám định viên doanh nghiệp .Những người này sẽ thay thế người trợ lý thanh toán tư pháp và thanh lý tài sản.
Đối tượng của luật này là tách khỏi chức năng của trợ lý thanh toán tư pháp và thanh lý tài sản công việc của những người sau đây:
- Người quản trị tư pháp giúp đỡ người mắc nợ và giám sát công tác quản trị doanh nghiệp.
- Người được ủy nhiệm thanh lý tài sản đại diện cho những chủ nợ và tiến hành việc thanh lý.
Giám định viên doanh nghiệp do tòa án chỉ định, có nhiệm vụ làm báo cáo về tình hình kinh tế của doanh nghiệp trong trường hợp hòa giải hoặc hồi vực bằng phương pháp tư pháp.
d. Những người quản lý tạm thời công ty.
Cũng như những trợ lý thanh toán tư pháp và thanh lý tải sản, người quản lý tạm thời cộng ty được chọn trong một danh sách do Tòa phúc thẩm lập, căn cứ vào đề nghị của Tòa án thương mại.
Họ có nhiệm vụ thực hiện những hành vi thay cho những người đại diện không muốn hoặc không thể thực hiện đựợc nhiệm vụ, thí dụ người quản lý một công ty từ chối triệu tập đại hội hàng năm.
Người quản lý tạm thời được cử theo đơn của bất kỳ đương sự nào, đo Tòa án thương mại xử vụ kiện cử và thường là do chánh án cử theo thủ tục khẩn cấp tạm thồi ra quyết định.
e. Lục sự.
Ở mỗi Tòa án thương mại, có một chánh lục sự là một viên chức tư pháp có chức năng như thư ký lục sự trưởng ở các tòa án dân sự tỉnh. Họ giữ một vai trò quan trọng trọng việc đăng ký vào sổ thương mại, kinh doanh và giữ các sổ sách về thế chấp.
Căc lục sự làm việc dưới quyền và giúp việc chánh lục sự. Họ ghi bút ký phiên tòa. Chánh lục sự không phải là công chức nhà nước, họ mua chức vị đó.

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật  trực tuyến qua tổng đài.

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!