1. Hợp đồng bảo đảm là gì?

Tại khoản 5 Điều 3 Nghị định 21/2021/NĐ-CP Quy định về thi hành bộ luật Dân sự về đảm bảo thực hiên nghĩa vụ, hợp đồng bảo đảm được hiểu như sau:

Hợp đồng bảo đảm bao gồm hợp đồng cầm cố tài sản, hợp đồng thế chấp tài sản, hợp đồng đặt cọc, hợp đồng ký cược, hợp đồng ký quỹ, hợp đồng mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu, hợp đồng bảo lãnh hoặc hợp đồng tín chấp.

Hợp đồng bảo đảm có thể là sự thỏa thuận giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm hoặc thỏa thuận giữa bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm và người có nghĩa vụ được bảo đảm.

Hợp đồng bảo đảm có thể được thể hiện bằng hợp đồng riêng hoặc là điều khoản về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hình thức giao dịch dân sự khác phù hợp với quy định của pháp luật.

2. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo đảm

Theo Điều 22 Nghị định 21/2021/NĐ-CP Quy định về thi hành bộ luật Dân sự về đảm bảo thực hiên nghĩa vụ, hiệu lực của hợp đồng bảo đảm được quy định như sau:

- Hợp đồng bảo đảm được công chứng, chứng thực theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan hoặc theo yêu cầu thì có hiệu lực từ thời điểm được công chứng, chứng thực.

- Hợp đồng bảo đảm không thuộc trường hợp trên thì có hiệu lực từ thời điểm do các bên thỏa thuận. Trường hợp không có thỏa thuận thì có hiệu lực từ thời điểm hợp đồng được giao kết.

Trường hợp tài sản bảo đảm được rút bớt theo thỏa thuận thì phần nội dung hợp đồng bảo đảm liên quan đến tài sản được rút bớt không còn hiệu lực; tài sản bảo đảm được bổ sung hoặc thay thế thì việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo đảm liên quan đến tài sản này thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan.

Biện pháp bảo đảm chưa phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba không làm thay đổi hoặc không làm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng bảo đảm.

3. Hình thức hợp đồng bảo đảm

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định, trong 7 biện pháp bảo đảm, ngoại trừ duy nhất biện pháp ký cược là không bắt buộc phải được lập thành văn bản, còn lại 6 biện pháp khác là cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp thì đều phải được lập thành văn bản. Quy định như vậy là không hợp lý và không cần thiết trong nhiều trường hợp. Nếu hợp đồng chính không phải bằng văn bản mà hợp đồng phụ phải được lập thành văn bản thì cũng không hợp lý. Ví dụ, khi mua bán vài chai bia thì thường là giao kết hợp đồng bằng lời nói và hình thức hợp đồng như vậy là hợp pháp. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người mua phải đặt cọc một số tiền để bảo đảm cho nghĩa vụ trả lại vỏ chai cho ngưồi bán. Nếu cứ theo đúng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì việc đặt cọc để trả vỏ chai sẽ buộc phải lập thành văn bản.

Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ quy định hai biện pháp bảo đảm bắt buộc phải được lập thành văn bản là bảo lưu quyền sở hữu và tín chấp, còn lại 7 biện pháp khác là cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký quỹ, ký cược, bảo lãnh và cầm giữ tài sản thì không bắt buộc phải được lập thành văn bản. Tất nhiên, ngoại trừ một số trường hợp như thế chấp bất động sản thì vẫn bắt buộc phải được lập thành văn bản.

Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định “Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó”. Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ hai trường hợp sau đây:

Thứ nhất, giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Toà án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó;

Thứ hai, giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Toà án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực. Thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức là 2 năm, kể từ thời điểm “giao dịch dân sự được xác lập”.

Như vậy, các hợp đồng mà pháp luật quy định bắt buộc phải bằng văn bản như hợp đồng tín dụng, hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nếu không được lập thành văn bản thì sẽ bị vô hiệu. Tuy nhiên, nếu các bên đã thực hiện được 2/3 hợp đồng hoặc tuy chưa thực hiện được 2/3 hợp đồng, nhưng đã quá thời hạn 2 năm thì vẫn được công nhận hiệu lực.

4. Xác định tài sản chung của gia đình trong giao dịch bảo đảm

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc xác định tài sản chung và quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này của các thành viên hộ gia tình cũng như của vợ chồng được thực hiện như sau:

Thứ nhất, tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự và luật khác có liên quan;

Thứ hai, việc ký quỹ, cầm cố, thế chấp tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Giao dịch cầm cố, thế chấp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình thì phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác. Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại Bộ luật Dân sự và luật khác có liên quan, trừ trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chĩa.

Một điểm rất mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 là, nếu có thành viên nào trong hộ gia đình không thể hiện sự đồng ý tham gia vào giao dịch cầm cố, thế chấp tài sản của hộ gia đình thì chỉ phần tài sản của thành viên đó bị vô hiệu (tức là phần giao dịch vượt quá phạm vi được phép của những người đại diện cho hộ gia đình đã ký kết). Hay nói cách khác, trường hợp các bên không có thỏa thuận, hợp đồng hợp tác hoặc luật không có quy định khác thì các thành viên nào của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân đồng ý với hợp đồng thế chấp, thì chịu trách nhiệm dân sự (trả nợ) theo phần tương ứng với phần đóng góp tài sản của mình, nếu không xác định được theo phần tương ứng thì xác định theo phần bằng nhau.

Tuy nhiên, nếu có thành viên trong hộ gia đình là vợ hoặc chồng không đồng ý với hợp đồng thế chấp, thì nguy cơ vẫn bị Toà án tuyên vô hiệu toàn bộ như cũ, vì thiếu sự đồng ý sử dụng tài sản vào việc thế chấp mà hậu quả pháp lý dẫn đến việc định đoạt tài sản của một trong hai người đối với tài sản là sở hữu chung hợp nhất.

5. Hợp đồng bảo đảm liên quan đến hộ gia đình

Ngoài một số vấn đề giao dịch bảo đảm chung mà chủ thể hợp đồng bảo đảm có yếu tố là tổ chức không phải là pháp nhân như nêu trên, còn một số vấn đề khác về giao dịch bảo đảm liên quan đến hộ gia đình. Giao dịch bảo đảm với hộ gia đình là một vấn đề pháp lý rất phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro.

Hộ gia đình đã bắt đầu được đề cập trong pháp luật từ năm 1964, là một trong những chủ thể của quan hệ dân sự trong hai Bộ luật Dân sự năm 1995 và 2005. Đến thời điểm giữa năm 2017, hộ gia đình đang được ghi nhận trong 48 đạo luật.

Kể cả trước đây khi hộ gia đình được xác định là chủ thể hay từ năm 2017 trở đi không còn là một chủ thể của quan hệ dân sự, thì vấn đề quan trọng nhất vẫn là phải xác định được các thành viên của hộ gia đình. Đáng tiếc, vấn đề mấu chốt này lại là một điều thách đố, nguy hiểm và nhức nhối trên thực tế trong suốt mấy chục năm qua, vì không có căn cứ pháp lý để khẳng định những người nào là thành viên của hộ gia đình. Dù được quy định trong nhiều đạo luật, nhưng lại không thể xác định cụ thể, chính xác về cơ sồ pháp lý thế nào là hộ gia đình (thành viên nào, thời điểm xác định và quan hệ giữa thành viên với tài sản của hộ gia đình). Việc này đã dẫn đến nhiều rắc rốì pháp lý trên thực tế, nhất là đối với giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất (cũng như nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) khi thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình nhưng lại không thể biết được rằng phải có sự đồng ý của những ai. Nếu một pháp nhân với hàng nghìn thành viên, thì đã có quy định rõ ràng xác định về thẩm quyền, thủ tục, tỷ lệ thông qua giao dịch hợp pháp, còn hộ gia đình thì giao dịch lại đòi hỏi tất cả thành viên đồng ý, mà điểm mấu chốt thì lại không có căn cứ pháp lý để xác định nhũng ai là thành viên hộ gia đình. Vì vậy, có thể ví hộ gia đình như một chủ thể pháp lý ảo.

Đối với tài sản của hộ gia đình là quyền sử dụng đất và những tài sản khác có giấy chứng nhận quyền sở hữu, thì đương nhiên phải có sự đồng ý của tất cả các chủ sở hữu như đã được quy định trong Bộ luật Dân sự, Luật đất đai, Luật Hôn nhân và gia đình, chứ chủ hộ gia đình không có vai trò đại diện hay quyết định thay cho các thành viên khác của hộ gia đình.

Nếu như pháp luật quy định việc ghi rõ họ tên của tất cả những người có quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thay vì chỉ ghi tên chủ hộ là một hoặc hai vợ chồng trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất như lâu nay, thì sẽ rất rõ ràng và tránh được những hậu quả pháp lý vô cùng rắc rối, phức tạp và nguy hại, đã, đang và sẽ xảy ra trong nhiều chục năm nữa.

Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “Việc đình đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ 15 tuổi trồ lên đồng ý” và pháp luật đất đai quy định: “Hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng chung của hộ gia đình phải được tất cả các thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự trong hộ gia đình đó thống nhất và ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự”. Như vậy, nếu một hoặc một số thành viên của hộ gia đình không thể hiện ý chí trong việc đưa tài sản vào cầm cố, thế chấp thì nguy cơ hợp đồng bảo đảm bị Toà án tuyên vô hiệu toàn bộ là rất cao, cho dù đã được công chứng và đăng ký thế chấp đúng quy định.

Xin lấy một ví dụ về vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng ký ngày 03/01/2007 giữa bà Nguyễn Thị C. và con trai là anh Nguyễn Công M. tại thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long vay 100 triệu đồng của Ngân hàng P. Tài sản thế chấp là căn nhà cấp 4 diện tích 120 m2 trên diện tích 142,7 m2 đất vườn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị C.

Bản án sơ thẩm số 42/KDTM-ST ngày 22/9/2010 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu một phần vì thiếu chữ ký của ông Nguyễn Công T. là chồng đã ly hôn với bà C từ năm 2007.

Theo kháng nghị giám đốc thẩm ngày 20/6/2014 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Toà kinh tế Toà án nhân dân tối cao đã hủy Bản án sơ thẩm và giao lại cho Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử lại theo hướng, xác định hợp đồng thế chấp vô hiệu toàn bộ, xù không đủ chữ ký của tất cả các thành viên hộ gia đình từ đủ 15 tuổi trở lên.

Do vậy, để bảo đảm về pháp lý, tránh nguy cơ bị vô hiệu, thì các tổ chức tín dụng nhận thế chấp và tổ chức hành nghề công chứng thưòng yêu cầu tất cả những người liên quan (càng nhiều người càng tốt) tham gia ký hợp đồng thế chấp. Nếu ai không ký vào hợp đồng thế chấp, thì ký vào giấy ủy quyền thế chấp. Nếu ai không ký vào giấy ủy quyền thế chấp, thì ký văn bản cam kết không liên quan, không khiếu nại, thắc mắc gì.

Tóm lại, Bộ luật Dân sự năm 2005 yêu cầu phải có tất cả mọi thành viên, từ người giúp việc cho đến người ở nhờ đã được đăng ký vào sổ hộ khẩu, từ người trưỏng thành cho đến con cháu chưa thành niên, từ người đang sinh sống ở trong nước, cho đến người đã ra cư trú tại nưổc ngoài, từ người còn sống cho đến người đã chết (tìm người thừa kế ký thay).

Trên thực tế chỉ còn biết dựa vào cơ sở pháp lý phổ biến nhất là sổ hộ khẩu được ghi cấp cho hộ gia đình, mặc dù sổ hộ khẩu không phải là căn cứ pháp lý để xác định quyền và nghĩa vụ chung của các thành viên, mà chỉ để phục vụ cho mục đích quản lý nhân khẩu thường trú. Theo Luật Cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) thì sổ hộ khẩu có thể được cấp cho cá nhân độc thân hoặc cho hộ gia đình. Theo đó, sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân. Những người ở chung một chở ỏ hợp pháp và có quan hệ gia đình là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh, chị, em ruột, cháu ruột thì có thể được cấp chung một sổ hộ khẩu. Những người khác, nếu có đủ điều kiện đăng ký thưòng trú tại tĩnh, thành phố trực thuộc trung ương theo luật định và được chủ hộ đồng ý thì được nhập chung vào sổ hộ khẩu đó. Thành viên đăng ký trong sổ hộ khẩu thường xuyên có biến động do việc tách, nhập hộ; nhập cắt, chuyển khẩu do sinh, tử, di chuyển, thậm chí đăng ký cư trú nhờ. Theo quy định của pháp luật, thì ai cũng có thể được đăng ký vào sổ hộ khẩu của gia tình khác, chỉ cần người cho thuê, cho mượn, cho ỏ nhờ nhà đồng ý bằng văn bản. Riêng việc nhập vào sổ hộ khẩu tại thành phố trực thuộc trung ương thì đòi hỏi có thêm điều kiện về quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng hoặc họ hàng ruột thịt.

Vì pháp luật chưa quy định rõ thế nào là hộ gia tình, nên mởi công chứng viên, mởi tổ chức hành nghề công chứng hay mởi ủy ban nhân dân cấp xã lại suy luận và giải quyết theo một cách khác nhau khi chứng nhận giao dịch hợp đồng liên quan đến tài sản của hộ gia tình.

Vì vậy, trong lĩnh vực ngân hàng, cứ 10 giao dịch thế chấp tài sản liên quan đến hộ gia tình, thì có tới 9 vụ rơi vào tình trạng mông lung, không chắc chắn, không yên tâm về mặt pháp lý, dù đã được công chứng, chứng thực và đăng ký thế chấp hợp lệ, hợp pháp.

Do vậy, để xác tình thành viên hộ gia đình làm cơ sở cho giao dịch dân sự theo đúng quy định của pháp luật, thì thường phải phát huy hết khả năng suy đoán để tìm ra mọi tình huống có thể. Khi giao dịch bất động sản (bao gồm đất đai, nhà ở, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất) với hộ gia đình, muốn xác định chắc chắn đầy đủ thành viên của hộ gia đình thì đầu tiên là phải bao gồm tất cả những người có tên trong sổ hộ khẩu tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận cũng như tại thòi điểm thực hiện giao dịch bất động sản. Không có cơ sở pháp lý để loại trừ những người cùng chung hộ khẩu, mặc dù là người ngoài cuộc, người ở nhờ không phải là thành viên của hộ gia đình. Cũng không có cơ sở pháp lý để loại trừ những người có tên trong sổ hộ khẩu sau thời điểm được cấp giấy chứng nhận bất động sản, dù họ không thực sự là thành viên hộ gia đình. Vì vậy vẫn buộc phải đưa họ vào trực tiếp tham gia giao dịch, không thì cũng phải yêu cầu họ lập cam kết không liên quan đến tài sản. Trường hợp không còn sổ hộ khẩu tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận bất động sản, thì phải căn cứ vào những bằng chứng pháp lý khác như văn bản xác nhận của ủy ban nhân dân hoặc công án nơi đăng ký hộ khẩu về các nhân khẩu của hộ gia đình tại thời điểm cấp giấy chứng nhận bất động sản.

Bên cạnh đó, phải xác định người ký còn bao gồm cả những người khác thực sự là thành viên của hộ gia đình, nhưng lại không có tên trong sổ hộ khẩu, vì đã tách hộ khẩu hoặc chưa nhập khẩu vào hộ gia đình. Trong khi đó, cũng lại khó có cơ sở pháp lý để yêu cầu những người không có tên trong sổ hộ khẩu ký vào văn bản liên quan, nhất là các giao dịch bắt buộc phải công chứng. Vì vấn đề quá rắc rối như vậy, nên hầu như phải phó thác và chỉ còn biết thực hiện theo yêu cầu hay hướng dẫn của từng địa phương và của các công chứng viên.

Xin lấy ví dụ một vụ việc thế chấp quyền sử dụng đất của hộ gia đình ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào tháng 5/2012 tại Ngân hàng M để minh họa về việc rắc rối này.

Quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình ông Nguyễn Văn T. Tuy nhiên, ông T. lại có tên tại 3 cuốn sổ hộ khẩu gia đình (gồm sổ hộ khẩu cấp cho cá nhân ông T., cho vợ con của ông T. và cho gia đình chị gái ông T.) vào các thời điểm khác nhau. Tổng cộng có 11 người xuất hiện trong 3 cuốn sổ hộ khẩu, trong số đó, có 7 người trong 1 sổ hộ khẩu tại thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 5 người trong 2 sổ hộ khẩu sau khi được cấp Giấy chứng nhận và tại thời điểm thế chấp. Thật vô cùng khó để xác định chính xác các thành viên của hộ gia đình có quyền tham gia ký hợp đồng thế chấp. Có khả năng xảy ra 11 tình huống khác nhau, tương ứng với từ 1 đến 11 người có tên trong 3 cuốn sổ hộ khẩu. Đấy là chưa kể còn có thể có các thành viên khác của hộ gia đình ông T nhưng không xuất hiện trong 3 cuốn sổ hộ khẩu.

Kể từ ngày 01/7/2014 trở đi, vấn đề rắc rối như trên đã được giải quyết một phần cơ bản. Luật Đất đai năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) quy định: “hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”. Theo đó, thì hộ gia đình sử dụng đất được hiểu là một nhóm từ 2 người trở lên, trong đó thường có ít nhất 2 người có quan hệ hôn nhân (vợ với chồng); quan hệ huyết thông (cha, mẹ với con đẻ; ông, bà nội ngoại với cháu ruột; anh, chị với em ruột; cụ nội, ngoại với chắt ruột; cô, dì, chú, bác, cậu vói cháu ruột và quan hệ huyết thông khác) hoặc quan hệ nuôi dưỡng (cha mẹ với con nuôi) cùng có quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản chung tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận bất động sản.

Tháng 4/2017, Toà án nhân dân tốỉ cao đã hướng dẫn thêm, việc xác định ai là thành viên hộ gia đình phải căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, bên nhận thế chấp tài sản của hộ gia đình rất khó có được hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình. Đặc biệt, nếu theo đúng nguyên tắc, thì chỉ có trường hợp Nhà nước giao đất nông nghiệp, mới xuất hiện chủ thể được giao đất là hộ gia đình. Tuy nhiên cả bốn Luật Đất đai năm 1987, 1993, 2003, 2013 và các văn bản hướng dẫn đều quy định không rõ, nên trên thực tế rất nhiều trường hợp, quyền sử dụng củá một cá nhân hay của hai vợ chồng (quyền sử dụng đất ở, nhận chuyển nhượng, nhận thừa kể) cũng được cấp cho hộ gia đình, làm cho vấn đề càng phức tạp.

Rất đáng tiếc là quy định tại Thông tư số 33/2017/TT- BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyền và Môi trường về việc ghi tên các thành viên của hộ gia đình trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là điều vô cùng cần thiết và hợp lý nhưng đã bị hiểu sai và phản đối dữ dội đến mức phải ngừng hiệu lực thi hành.

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, việc xác định chủ thể của quan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình sử dụng đất được thực hiện theo quy định của Luật đất đai.

Tuy nhiên, cũng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì hộ gia đình lại không còn là chủ thể của giao dịch dân sự. Do vậy, không còn ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, thế chấp rừng trồng (là rừng sản xuất) nói riêng và hợp đồng bảo đảm nói chung với hộ gia tình (theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật Đất đai năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2018), Luật Nhà ở năm 2014), mà phải ký với các thành viên của hộ gia tình. Như vậy, khi giao dịch bảo đảm mà tài sản thuộc sở hữu của hộ gia đình thì vẫn phải xác định đúng thành viên của hộ gia tình như trước đây. Và người ký giao dịch hoặc văn bản đồng ý với việc giao dịch của hộ gia đình gồm tất cả các thành viên (đủ 18 tuổi trở lên theo Bộ luật Dân sự năm 2015).

Hiện nay mới chỉ có quy định của pháp luật về thành viên hộ gia tình sử dụng đất, mà vẫn chưa có quy định về việc xác định thành viên của hộ gia tình trong việc sở hữu những tài sản khác và trong mối quan hệ khác.