1. Khái quát về trợ cấp thất nghiệp

Bảo hiểm thất nghiệp là một phạm trù kinh tế – xã hội gắn với sự ra đời của sản xuất hàng hoá và phân công lao động xã hội, giúp cho người lao động giảm bớt khó khăn, ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình khi bị mất việc làm, tái hoà nhập thị trường lao động. Hay nói cách khác dễ hiểu hơn bảo hiểm thất nghiệp là nhằm hỗ trợ và bù đắp về vật chất và tinh thần cho người lao động khi họ bị mất việc làm và nhằm giúp họ có thêm độnglực để đi tìm công việc khác, từ đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội.

Đặc điểm của BHTN:

  • BHTN là loại hình bảo hiểm độc lập với BHXH, nhưng lại có quan hệ chặt chẽ với BHXH.
  • Mục đích của BHTN nhằm đảm bảo thu nhập tối thiểu cho người lao động khi họ bị mất việc làm, giúp họ và gia đình tiếp tục ổn định cuộc sống và sớm trở lại làm việc.
  • Nguyên nhân mất việc làm không phải lỗi của người lao động.
  • Phần thu nhập của người lao động bị mất đi do bị mất việc làm sẽ được BHTN bù đắp, nhưng chỉ bù đắp trong một khoảng thời gian nhất định.

Vai trò của BHTN:

Bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị mất việc làm, giúp họ và gia đình ổn định cuộc sống.

Thất nghiệp là rủi ro bị mất việc làm mà không một người lao động nào mong muốn. Khi bị thất nghiệp, thu nhập của người lao động bị mất toàn bộ. Vì thế, nếu họ có tham gia BHTN, họ sẽ được bù đắp một phần thu nhập bị mất đi từ quỹ BHTN chi trả do các bên tham gia đóng góp. Cho dù khoản thu nhập được bù đắp thấp hơn thu nhập của người lao động trước khi bị thất nghiệp, song vẫn góp phần ổn định cuộc sống của họ và gia đình, đặc biệt là ổn định cuộc sống ngay sau những ngày bị thất nghiệp, cũng như thông qua các chế độ, giúp người thất nghiệp có những cơ hội về việc làm để trở lại thị trường lao động. Chính vì điều này, những hệ lụy mà tình trạng thất nghiệp gây ra sẽ được kiểm soát, xã hội vì thế sẽ đảm bảo ổn định bền vững, nhiều tệ nạn sẽ được đẩy lùi,…

Phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHTN

Trong thực tế, chỉ có một bộ phận người lao động bị mất việc làm trở thành thất nghiệp do các nguyên nhân khách quan và không ai mong muốn. Do đó, số người hưởng trợ cấp thất nghiệp tất yếu ít hơn số người tham gia đóng góp bắt buộc vào quỹ BHTN. Từ đó hình thành nguyên tắc BHTN là “lấy số đông bù số ít”. Nguyên tắc này thể hiện việc phân phối lại thu nhập giữa những người lao động có thu nhập khác nhau, giữa những người có thu nhập cao và thu nhập thấp, giữa những người đóng góp đều đặn và không đều đặn vào quỹ BHTN. Như vây, vai trò BHTN không những phân phối lại thu nhập mà còn góp phần thực hiện công bằng xã hội.

Động viên người lao động hăng hái làm việc

Người lao động sẽ thực sự yên tâm do có chỗ dựa vững chắc khi được đảm bảo việc làm bằng các biện pháp hỗ trợ nhằm hạn chế việc bị sa thải và được chi trả các chế độ thất nghiệp nếu như tham gia BHTN và đủ điều kiện hưởng. Chính vì vậy, người lao động sẽ gắn bó với công việc, tích cực làm việc để tăng thêm nguồn thu nhập và cũng từ đó có điều kiện tăng mức đóng BHTN để lúc nào đó có thể sẽ được hưởng chế độ. Đó là quan hệ hai chiều mang tính chất tích cực của BHTN đối với người lao động.

>> Xem thêm:  Cách nhận và hồ sơ thủ tục để nhận bảo hiểm xã hội một lần?

Quỹ BHTN nhàn rỗi sẽ góp phần đầu tư để phát triển kinh tế – xã hội

Các nguồn thu chủ yếu từ đối tượng tham gia đã tồn tích, hình thành quỹ BHTN, trong thời gian nhàn rỗi có thể đầu tư một phần vào các hoạt động kinh tế để sinh lời, tăng thêm nguồn thu cho quỹ BHTN. Khoản đầu tư này vừa góp phần phát triển sản xuất – kinh doanh, vừa đảm bảo an toàn cho quỹ BHTN khỏi bị mất giá để chi trả trợ cấp BHTN cho người lao động.

Cùng với các loại hình bảo hiểm khác, BHTN còn góp phần đảm bảo an sinh xã hội

Ngoài BHTN, trong điều kiện kinh tế thị trường còn có BHXH, BHYT, bảo hiểm thương mại,… Tất cả các loại hình bảo hiểm ngày nay đều đóng vai trò là trụ cột chính của hệ thống các chính sách, các chương trình đảm bảo an sinh xã hội quốc gia. Bởi các loại hình bảo hiểm đều dựa trên mối quan hệ đóng, hưởng, trên cơ sở hình thành quỹ do các bên tham gia đóng góp. Vì thế, các rủi ro mà đối tượng gặp phải đều được quỹ bảo hiểm bù đắp, chi trả hoặc bồi thường. Từ đó, góp phần làm giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Ngày nay, chính sách BHTN ngày càng được thế giới khẳng định, quan tâm và đánh giá rất cao.

2. Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thất nghiệp

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động 2012;

Luật việc làm 2013.

Theo quy định của pháp Luật Việt Nam thì khi tham gia hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải tham gia bảo hiểm bắt buộc trong đó bảo hiểm bắt buộc bao gồm : bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp, điều này được quy định trong khoản 1, Điều 186 Bộ luật lao động 2012 như sau:

Điều 186. Tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

1. Người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế.

Khuyến khích người sử dụng lao động, người lao động thực hiện các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động.

Điều kiện được hưởng trợ cấp thất nghiệp quy định tại Luật Việc làm 2013

>> Xem thêm:  Có được hưởng bảo hiểm thất ngiệp khi tự ý nghỉ việc không ?

Điều 49, Luật việc làm 2013 quy định về điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:

MỤC 3. TRỢ CẤP THẤT NGHIỆP

Điều 49. Điều kiện hưởng

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.

Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp

Căn cứ quy định tại Điều 50, Luật việc làm 2013 thì mức hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính như sau:

1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

Thời gian và thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp

Khoản 2,3 Điều 50 Luật Việc làm 2013 quy định về thời gian và thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp:

2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này.

Quy định về tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp

Điều 53, Luật Việc làm 2013 quy định về các trường hợp tạm ngừng hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:

Điều 53. Tạm dừng, tiếp tục, chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp khi không thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định tại Điều 52 của Luật này.

2. Người lao động bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu vẫn còn thời gian được hưởng theo quyết định thì tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp khi thực hiện thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định tại Điều 52 của Luật này.

3. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp sau đây:

a) Hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp;

b) Tìm được việc làm;

c) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

d) Hưởng lương hưu hằng tháng;

đ) Sau 02 lần từ chối nhận việc làm do trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp giới thiệu mà không có lý do chính đáng;

e) Không thực hiện thông báo tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định tại Điều 52 của Luật này trong 03 tháng liên tục;

g) Ra nước ngoài để định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

h) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

i) Bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp;

k) Chết;

l) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

m) Bị tòa án tuyên bố mất tích;

n) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù.

4. Người lao động bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp thuộc các trường hợp quy định tại các điểm b, c, h, l, m và n khoản 3 Điều này được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện quy định tại Điều 49 của Luật này.

Thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trừ đi thời gian đóng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo nguyên tắc mỗi tháng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp.

3. Áp dụng quy định pháp luật vào thực tiễn

Thời gian gần đây công ty Luật Minh Khuê nhận được rất nhiều thắc mắc từ quý khách hàng về trợ cấp thất nghiệp, xin được tổng hợp và giải quyết một số tình huống cụ thể như sau:

TH1. Xin chào công ty Luật Minh Khuê, tôi tham gia hợp đồng lao động không xác định thời hạn và đến ngày 01/5/2020 công ty có gửi thông báo đến tôi về việc chấm dứt hợp đồng lao động giữa tôi và công ty, đến ngày 16/6/2020 công ty có gửi quyết định chấm dứt hợp đồng lao động tới tôi. Mức lương hiện từ tháng 9/2019 tôi được nâng lên mức 4.500.000 đồng một tháng, cùng với đó tôi làm việc và tham gia đóng bảo hiểm xã hội ở công ty đã được 9 năm. Vậy trong trường hợp của tôi, Luẩ sư cho tôi hỏi tôi có được hưởng trợ cấp thất nghiệp hay không? Và mức hưởng là bao nhiêu?

Chân thành cảm ơn luật sư./.

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về công ty Luật Minh Khuê về vấn đề của bạn công ty xin được đưa ra ý kiến tư vấn như sau:

>> Xem thêm:  Tư vấn đóng bảo hiểm xã hội lần đầu cho người lao động?

Đầu tiên, ta phải xét xem bạn đủ điều kiện nhận trợ cấp thất nghiệp hay không. Bạn tham gia đóng BHXH được 9 năm và khi công ty muốn chấm dứt hợp đồng lao động với bạn công ty cũng đã đáp ứng đủ điều kiện thông báo trước cho bạn khoản thời gian là 45 ngày trước khi ra quyết định chấm dứt hợp đồng với bạn.

Căn cứ theo Điều 49, Luật việc làm 2013 thì trường hợp của bạn chấm dứt hợp đồng đúng quy định của pháp luật thuộc Khoản 1, Điều 49 nên bạn là đủ điều kiện để được hưởng trợ cấp theo đúng quy định.

Thứ hai về mức hưởng, ở đây bạn có đề cập mức lương của bạn từ 9/2019 đã được nâng lên 4.500.000, đây cũng chính là mức lương để người sử dụng lao động đóng BHXH cho bạn. Theo quy định của Điều 50 thì mức hưởng bạn được nhận sẽ bằng 60% mức lương trung bình trong 6 tháng liền kề trước khi bạn và công ty chấm dứt hợp đồng lao động. Ở đây, cụ thể là mức hưởng trợ cấp thất nghiệp của bạn sẽ là 60% x 4.500.000= 2.700.000

Thứ ba về thời gian hưởng, bạn đã đóng BHXH trong suốt 9 năm, căn cứ theo quy định tại khoản 2, Điều 50 Luật Việc làm 2013 :" 2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng."

Vì vậy cụ thể số thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp của bạn sẽ được 9 tháng x 2.700.000

TH2. Chào công ty luật Minh khuê, tôi tham gia hợp đồng với công ty đã được 15 năm đến nay tôi muốn chấm dứt hợp đồng lao động và muốn được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Xin luật sư hãy tư vấn cho tôi cách để tôi chấm dứt hợp đồng đúng quy định của pháp luật và được nhận trợ cấp thất nghiệp theo đúng quy định của pháp luật. Xin cảm ơn!

Chào anh/chị, cảm ơn anh/chị đã gửi câu hỏi về công ty Luật Minh Khuê về vấn đề của anh/chị công ty xin được đưa ra ý kiến tư vấn như sau:

Thứ nhất, cần phải xác định hợp đồng giữa anh/chị là hợp đồng không xác định thời hạn theo quy định của Bộ luật lao động. Theo quy định của pháp luật về lao động thì cả người sử dụng lao động và người lao động đều có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên phải đáp ứng được khoản thời gian báo trước nếu không sẽ thuộc và trường hợp chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, mà khi rơi vào trường hợp chấm dứt hợp đồng trái pháp luật thì bạn sẽ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại điểm a, Khoản 1, Điều 49 Luật việc làm 2013.

Quy định về thời hạn báo trước được quy định tại Bộ luật lao động 2012như sau:

Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Như vậy, nếu anh/chị muốn chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật thì phải đưa ra lý do hợp lý và báo trước khoản thời gian là 45 ngày kể từ ngày cho người sử dụng lao động biết. Sau thời gian 45 ngày kể từ ngày bạn thông báo nếu hai bên không có thỏa thuận gì thì anh/chị được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và sẽ nhận được quyết định chấm dứt hợp đồng từ phía công ty. Đây chính là điều kiện tiên quyết để anh/chị được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

3 Hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp bao gồm

>> Xem thêm:  Điều kiện xin ngừng đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc ?

- Đơn đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp (theo mẫu do Bộ LĐTBXH quy định);

- Bản chính hoặc bản sao có chứng thực của hợp đồng lao động (HĐLĐ) hoặc hợp đồng làm việc (HĐLV) đã hết hạn; quyết định thôi việc hoặc quyết định sa thải hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc hoặc thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ hoặc HĐLV;

- Sổ BHXH

- 2 ảnh 3 x 4

- CMTND, sổ hộ khẩu/sổ tạm trú photto nếu nộp hồ sơ hưởng tại nơi cư trú và kèm theo bản gốc để đối chiếu

4. Thử tục hưởng trợ cấp thất nghiệp

Bước 1. Trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ hoặc HĐLV, NLĐ chưa có việc làm và có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp phải trực tiếp nộp 01 bộ hồ sơ cho Trung tâm Giới thiệu việc làm (TTGTVL) tại địa phương nơi NLĐ muốn nhận trợ cấp thất nghiệp.

Bước 2. Thời hạn giải quyết hồ sơ:

+ Trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ, người lao động (NLĐ) chưa tìm được việc làm thì trung tâm giới thiệu việc làm (TTGTVL) thực hiện xác nhận giải quyết hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp.

+ Trong vòng 20 ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ, TTGTVL ra quyết định duyệt chi trả trợ cấp thất nghiệp kèm theo sổ BHXH có xác nhận trả cho NLĐ.

>> Xem thêm:  Đóng bảo hiểm xã hội chỗ nào có lợi cho mình hơn ?

+ Trường hợp NLĐ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp thì TTGTVL phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

+ Thời điểm tính hưởng trợ cấp thất nghiệp: Ngày thứ 16 tính từ ngày nộp hồ sơ.

Bước 3. Nhận tiền chi trả trợ cấp thất nghiệp

+ Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ thời điểm có quyết định duyệt chi trả trợ cấp thất nghiệp, cơ quan BHXH tại địa phương thực hiện chi trả tiền trợ cấp tháng đầu cho NLĐ kèm theo thẻ BHYT.

+ Hàng tháng, cơ quan BHXH thực hiện chi trả trợ cấp TN trong vòng 12 ngày tính từ ngày hưởng trợ cấp TN tháng đó nếu không nhận được quyết định tạm dừng, chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp của NLĐ

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Đóng bảo hiểm tự nguyện và mức hưởng ?