1 Phiên tòa giám đốc thẩm hình sự

Phiên tòa giám đốc thẩm là một trong các giai đoạn của thủ tục giám đốc thẩmPhiên toà giám đốc thẩm hình sự là phiên toà do ủy ban Thẩm phán Toà án cấp tỉnh, Tòa hình sự Toà án nhân dân tối cao, Toà án quân sự trung ương và Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tiến hành để xét xử vụ án hình sự do có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Cho đến nay, về lý luận cũng như thực tiễn xét xử rất ít người bàn đến phiên toà giám đốc thẩm. Hầu hết các phiên toà giám đốc thẩm không có mặt những người tham gia tố tụng như: người bị kết án, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng v.v... Không có người đến dự phiên toà. Tính công khai của phiên toà giám đốc thẩm bị hạn chế rất nhiều do nó được thực hiện theo một thủ tục riêng (thủ tục dặc biệt).

2 Hình thức phiên toà

Ở phiên toà sơ thẩm hoặc.phúc thẩm, chúng ta thấy hình thức rất uy nghiêm, trong phòng xét xử có treo quốc huy, Hội đồng xét xử ngồi ở bàn giữa trên bục cao; phía tay phải là kiểm sát viên giữ quyền công tố; bên tay trái là thư ký phiên toà; có vành móng ngựa dành cho bị cáo đứng khai trước toà; có bàn cho luật sư, cho người phiên dịch, người giám định, người bị hại, người có quyền và lợi ích liên quan và nhân chứng, phía dưới là các hàng ghê dành cho nhân dân đến dự. Phiên toà lớn có tính chất điển hình có cả cảnh sát bồng súng đứng tiêu binh để tăng thêm sự uy nghiêm; các phóng viên báo viết, báo nói, báo hình đến phiên toà đưa tin, tuyên truyền v.v...Ở phiên toà giám đốc thẩm hình thức của nó như là một cuộc họp. Trong phòng xử án không theo một quy định bắt buộc như ở phiên toà sơ thẩm hoặc phúc thẩm. Đại diện Viện kiểm sát và Thư ký ngồi chung với Hội đồng xét xử. Nếu không phải là người tiến hành tố tụng thì khó phân biệt phiên toà giám đốc thẩm với một cuộc họp bình thường.

Hình thức phiên toà như trên chỉ có thể phù hợp với trường hợp không có mặt người tham gia tố tụng. Nếu có mặt người tham gia tố tụng do Toà án triệu tập đến, thì hình thức phiên toà cần trang nghiêm hơn, có thể cũng giống như phiên toà sơ thẩm hoặc phúc thẩm.

3 Thời hạn xét xử giám đốc thẩm

Theo quy định tại Điều 252 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 , thì trong thời hạn bốn tháng kể từ ngày nhận được kháng nghị, phiên toà giám đốc phải được tiến hành.

Tuy nhiên có những vụ án phức tạp, Viện kiểm sát phải giành nhiều thời gian để nghiên cứu hồ sơ, thậm chí phải tăng cứu nên hết thời hạn xét xử giám đốc thẩm, Viện kiểm sát vẫn chưa chuyển trả hồ sơ cho Toà án xét xử giám đốc thẩm để mở phiên toà. Cũng có trường hợp đã mở phiên toà, nhưng Hội đồng xét xử giám đốc thẩm quyết định hoãn phiên toà để tăng cứu, sau khi hoãn phiên toà do việc tăng cứu gặp khó khăn kéo dài nên hết thời hạn xét xử giám đốc thẩm vẫn không mở được phiên toà. Phiên toà giám đốc thẩm do Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tiến hành bao giờ cũng được chuẩn bị rất kỹ, việc triệu tập các thành viên của Hội đồng Thẩm phán cũng khó khăn hơn vì có người thành phố Hồ Chí Minh, có người ở Đà Nẵng và những đơn vị này các thành viên của Hội đồng Thẩm phán thường xuyên đi công tác có khi hàng tháng mới về trụ sở.

Thời hạn 4 tháng, Toà án xét xử giám đốc thẩm phải mở phiên toà được tính từ ngày nhận được kháng nghị chứ không phải ngày kháng nghị.

Thời hạn giám đốc thẩm được quy định tại Điều 283 BLTTHS năm 2015 là “Phiên tòa giám đốc thẩm phải được tiến hành trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị”. Như vậy, điều luật quy định thời hạn xét xử chung cho các cấp giám đốc thẩm từ Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh đến Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đều là 4 tháng và không quy định gia hạn thời hạn xét xử giảm đốc thẩm.

Một số nước cho thấy thời hạn giám đốc thẩm được quy định ngắn hơn ta rất nhiều. Theo quy định tại Điều 571 BLTTHS Cộng hòa Pháp “Tòa hình sự Tòa phá án phải xét xử trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày có quyết định của Chánh tòa về việc chấp nhận đơn kháng cáo, kháng nghị, phá án. Điều 406 BLTTHS Liên bang Nga quy định: trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết phải ra được quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm. Trường hợp chấp nhận thì phải chuyển kháng cáo hoặc kháng nghị giám đốc thẩm cùng hồ sơ vụ án cho Tòa án giám đốc thẩm giải quyết. Theo Điều 407 của Bộ luật này, thì kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm phải được Tòa án cấp giám đốc thẩm giải quyết tại phiên tòa trong thời hạn 15 ngày, đối với Tòa án tối cao Liên bang Nga không quá 30 ngày kể từ ngày có quyết định chấp nhận giải quyết kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Như vậy, tổng thời hạn giám đốc thẩm theo Luật tố tụng hình sự của Liên bang Nga tối thiểu là 45 ngày, tối đa là 60 ngày

4 Những người tham gia phièn toà giám đốc thẩm

Điều 383 BLTTHS năm 2015 quy định về Những người tham gia phiên tòa giám đốc thẩm

- Phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp.

- Trường hợp xét thấy cần thiết hoặc có căn cứ sửa một phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Tòa án phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm; nếu họ vắng mặt thì phiên tòa giám đốc thẩm vẫn được tiến hành.

Như vậy, sự có mặt của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp tại phiên toà giám đốc thẩm là bắt buộc, còn những người khác khi xét thấy cần thiết, Toà án có thể triệu tập như: người bị kết án, người bào chữa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên toà giám đốc thẩm. Vấn đề đặt ra cần phải làm rõ là khi nào thì Toà án thấy cần thiết phải triệu tập... và có thể triệu tập ?

Căn cứ vào thẩm quyền của Hội đồng giám đôc thẩm khi ra các quyết định và thực tiễn công tác giám đốc thẩm, những trường hợp cần phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị đến phiên tọà là những trường hợp kháng nghị theo hướng huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp phúc thẩm có hình phạt nhẹ hơn và giữ nguyên quyết định của bản án hoặc quyết định của Toà án cấp sơ thẩm có hình phạt nặng hơn hoặc Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội,nhưng Toà án cấp phúc thẩm tuyên bố bị cáo không phạm tội và kháng nghị lại theo hướng huỷ bản án của Toà án cấp phúc thẩm và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Nói chung, các trường hợp kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án mà không huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại hoặc để điều tra lại hoặc các khoản về dân sự trong vụ án hình sự mà Hội đồng giám đốc thẩm quyết định ngay tại phiên toà giám đốc thẩm thì cần thiết phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị ra phiên toà giám đốc thẩm để họ trình bày ý kiến của mình.

5 Thành phần Hội đồng giám đốc thẩm

– Đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì:

Hội đồng giám đốc thẩm Tòa án nhân dân cấp tỉnh là Ủy ban Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh. Khi tiến hành giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia và Chánh án Tòa án cấp tỉnh làm Chủ tọa phiên tòa giám đốc thẩm.

– Đối với Tòa hành chính Tòa án nhân dân tối cao:

Hội đồng giám đốc thẩm của Tòa hành chính Tòa án nhân dân tối cao gồm ba Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khi tiến hành giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải có đủ ba Thẩm phán tham gia; Chánh tòa của Tòa hành chính Tòa án nhân dân tối cao phân công một Thẩm phán làm Chủ tọa phiên tòa giám đốc thẩm.

– Đối với Tòa án nhân dân tối cao

Hội đồng giám đốc thẩm Tòa án nhân dân tối cao là Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khi tiến hành giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao làm Chủ tọa phiên tòa giám đốc thẩm.

– Tòa án quân sự trung ương

Khi xét xử giám đốc đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương tham gia, do Chánh án Tòa án quân sự trung ương làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành

6 Thủ tục phiên toà giám đốc thẩm

THeo điều 354 BLTTHS năm 2015 quy định về thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm như sau :"Thủ tục bắt đầu phiên tòa và thủ tụng tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như phiên tòa sơ thẩm nhưng trước khi xét hỏi, một thành viên của Hội đồng xét xử trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị. Chủ toạ phiên tòa hỏi người kháng cáo có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo.Chủ toạ phiên tòa hỏi Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu bị cáo và những người liên quan đến kháng nghị trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị.Khi tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên, người khác liên quan đến kháng cáo, kháng nghị phát biểu ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị; Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án."

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết , Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!