1. Thế nào là chết cùng thời điểm?

Theo quy định tại Điều 619 của Bộ luật Dân sự năm 2015, có hai trường hợp mà người ta có thể xem xét là "chết cùng thời điểm":

- Trong trường hợp có căn cứ chứng minh rằng thời điểm các cá nhân chết là cùng thời điểm với nhau: Điều này đòi hỏi có bằng chứng cụ thể và đáng tin cậy chứng minh rằng tất cả những người liên quan đã chết vào cùng một lúc. Các bằng chứng này có thể bao gồm các tài liệu, chứng cứ khoa học, hay bất kỳ thông tin nào khác mà chứng minh sự đồng thời trong thời điểm chết.

- Trong trường hợp các cá nhân chết nhưng không thể xác định ai chết trước ai chết sau: Điều này xảy ra khi không có thông tin cụ thể về thời gian chính xác mà một người chết trước hoặc sau, và không thể xác định rõ ai chết trước ai. Ví dụ như trong các tình huống như tai nạn xe, động đất, sóng thần, nơi mà không có khả năng xác định thời gian chết cụ thể.

Quy định này giúp giải quyết các vấn đề pháp lý và di truyền trong trường hợp không thể xác định rõ thứ tự chết của những người liên quan. Điều này quan trọng trong việc xác định quyền lợi và trách nhiệm của những người thừa kế và trong các vấn đề liên quan đến di sản.

2. Thừa kế khi nhiều người chết cùng thời điểm được quy định như thế nào?

Theo quy định tại Điều 613 của Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế là cá nhân phải đáp ứng một trong hai điều kiện sau đây: Còn sống vào thời điểm mở thừa kế tức là người được xem là người thừa kế nếu họ vẫn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế, nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết tức là một người cũng được coi là người thừa kế khi họ sinh ra và duy trì sự sống sau thời điểm mở thừa kế, nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản qua đời. Như vậy, theo quy định này, người được xem là người thừa kế nếu họ đáp ứng một trong những điều kiện nêu trên, bảo đảm rằng quy trình thừa kế diễn ra theo các quy tắc xác định và đảm bảo tính công bằng trong việc phân chia di sản.

Phân chia di sản của người chết có thể xảy ra trong hai trường hợp chính: khi người chết đã lập di chúc (di chúc hợp pháp) và khi không có di chúc. Quy trình chia di sản sẽ được thực hiện như sau:

- Trường hợp thứ nhất khi người chết có lập di chúc: Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong trường hợp mà những người chết cùng một lúc, trong đó có người đã lập di chúc và người được chỉ định nhận di chúc, di chúc của người lập sẽ không có hiệu lực. Nghĩa là, mặc dù người lập di chúc đã ghi rõ phần di sản đó thuộc về người được chỉ định trong di chúc, nhưng do cả hai đều chết cùng thời điểm, người thừa kế theo di chúc sẽ không được thừa kế di sản đó. Trong trường hợp di chúc không có hiệu lực, phần tài sản đó sẽ được phân chia theo quy định của pháp luật. Điều này có nghĩa là di chúc không có ảnh hưởng và di sản sẽ được phân phối theo quy định của pháp luật.

- Trong trường hợp thứ hai, khi người chết không lập di chúc hoặc di chúc bị tuyên vô hiệu (như trường hợp trước đó, hoặc di chúc không đáp ứng đủ điều kiện theo pháp luật), quy trình phân chia di sản sẽ tuân theo quy định của pháp luật. Di sản của người chết sẽ được phân chia theo các quy tắc quy định như sau: Theo Điều 651 của Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế theo pháp luật được xác định theo thứ tự hàng thừa kế.

- Cụ thể: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi. Trong quan hệ giữa vợ và chồng, người còn sống sẽ thừa kế di sản của người kia nếu họ chết cùng thời điểm. Đối với cha đẻ, mẹ đẻ, con đẻ và con nuôi, quy định theo quan hệ gia đình tương ứng. Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; cháu ruột mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. Quy định liên quan đến mối quan hệ gia đình và thừa kế của họ. Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; cháu ruột mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. Các quy định liên quan đến quan hệ và thừa kế trong hàng này.

- Những người hưởng thừa kế ở cùng một hàng sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau. Trong trường hợp không còn người ở hàng thừa kế trước vì lý do đã chết, bị truất quyền hưởng di sản, không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản, những người ở hàng thừa kế sau mới có quyền hưởng di sản. Tóm lại, khi không có di chúc hoặc di chúc không có hiệu lực, di sản sẽ được phân chia theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp ngoại lệ khi nhiều người thừa kế chết cùng thời điểm

Dù người có quyền thừa kế không được hưởng thừa kế khi họ và người lập di chúc chết cùng thời điểm, tuy nhiên, nếu người này có con, quy định về thừa kế thế vị sẽ được áp dụng. Quy định này được thiết lập nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người thừa kế. Nếu người thừa kế còn sống, họ đương nhiên sẽ được hưởng phần di sản đã được phân chia. Điều này được chi tiết tại Điều 652 của Bộ luật Dân sự 2015: Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản, cháu sẽ được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống. Nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản, thì chắt sẽ được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Điều kiện thừa kế thế vị bao gồm các yếu tố: Người thừa kế thế vị phải có quan hệ thuộc hàng thừa kế thứ nhất, và họ luôn đặt ở vị trí đời sau. Nghĩa là chỉ có con thế vị cha, mẹ mới có thể hưởng di sản của ông bà hoặc các cụ, và không xảy ra trường hợp cha, mẹ thế vị con để hưởng di sản của ông bà hoặc các cụ. Quan hệ huyết thống về trực hệ: Quan hệ huyết thống giữa người thừa kế thế vị và người để lại di sản phải là quan hệ huyết thống về trực hệ, nghĩa là chỉ có con đẻ mới có thể thay thế vị trí của cha, mẹ đẻ. Còn sống vào thời điểm mở thừa kế: Người thừa kế thế vị phải còn sống vào thời điểm người để lại di sản chết hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế, nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Quyền hưởng di sản của cha, mẹ thế vị: Khi còn sống, cha hoặc mẹ của người được thừa kế thế vị phải có quyền được hưởng di sản của người chết. Nếu bị tước hoặc bị truất quyền hưởng di sản thừa kế, con hoặc cháu của họ không thể thừa kế thế vị. Không bị tước quyền thừa kế theo Điều 644 BLDS 2015: Bản thân người thừa kế thế vị không được tước quyền thừa kế theo khoản 1 của Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Vậy, nếu người có quyền thừa kế là con của người để lại di sản và cả hai chết cùng thời điểm, con của người thừa kế (tức là cháu của người để lại di sản) sẽ được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu đã được hưởng nếu còn sống. Trường hợp con của người thừa kế cũng chết cùng thời điểm với người để lại di sản, thì chắt sẽ được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt đã được hưởng nếu còn sống.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Quyền thừa kế là gì? Quan hệ giữa quyền thừa kế và quyền sở hữu?

 Nếu có bất cứ thắc mắc nào về vấn đề này hay gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào khác, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!