Cơ sở pháp lý

Luật trọng tài thương mại 2010

1. Quy định về trọng tài viên

Trọng tài viên là người được các bên lựa chọn hoặc được Trung tâm trọng tài hoặc Tòa án chỉ định để giải quyết tranh chấp theo quy định Luật trọng tài thương mại 2010.

Trọng tài viên là những chuyên gia, học giả có kiến thức chuyên môn sâu rộng, giàu kinh nghiệm thực tiễn, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, khách quan.

Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 quy định công dân Việt Nam có đủ các điều kiện sau đây có thể làm trọng tài viên:

1) Có năng lực hành vị dân sự đầy đủ;

2) Có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, vô tư, khách quan;

3) Có bằng đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ năm năm trở lên.

Người đang bị quản chế hành chính, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án mà chưa được xoá án tích không được làm trọng tài viên. Thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, chấp hành viên, công chức đang công tác tại tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án không được làm trọng tài viên.

Hiện nay, khái niệm trọng tài viên có thể được hiểu theo Luật trọng tài thương mại năm 2010 như sau:

Trọng tài viên là người được các bên lựa chọn hoặc được Trung tâm trọng tài hoặc toà án chỉ định để giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

Tiêu chuẩn Trọng tài viên

Những người có đủ các tiêu chuẩn sau đây có thể làm Trọng tài viên:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật dân sự;

- Có trình độ đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 5 năm trở lên;

- Trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu nêu tại điểm b khoản này, cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên.

Những người có đủ tiêu chuẩn nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây không được làm Trọng tài viên:

- Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, công chức thuộc Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án;

- Người đang là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích.

Trung tâm trọng tài có thể quy định thêm các tiêu chuẩn cao hơn các tiêu chuẩn trên đối với Trọng tài viên của tổ chức mình.

2. Quy định về trọng tài vụ việc

Trọng tài vụ việc trong tiếng Anh là Ad-hoc arbitration.

Trọng tài vụ việc (Ad-hoc arbitration) là hình thức trọng tài được các bên tranh chấp thỏa thuận lập ra để giải quyết xong vụ tranh chấp đó.

2.1. Đặc điểm của trọng tài vụ việc

Trọng tài vụ việc không có trụ sở và bộ máy cố định, không có danh sách trọng tài viên và không có qui tắc tố tụng riêng. Trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp các bên thỏa thuận cử trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài. Các bên tranh chấp có thể lựa chọn qui tắc tố tụng phổ biến nào đó (thường là Qui tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài có uy tín) để giải quyết vụ tranh chấp.

Xác định địa điểm tổ chức trọng tài vụ việc là vô cùng quan trọng, bởi hầu hết các khó khăn liên quan đến tiến hành trọng tài vụ việc như việc chỉ định trọng tài viên, khoản thù lao,... sẽ phải giải quyết theo luật quốc gia của nơi tiến hành trọng tài.

Trọng tài vụ việc thường được thành lập theo sự thỏa thuận của các bên sau khi tranh chấp đã xảy ra.

2.2. Thành lập trọng tài vụ việc

Điều 41. Thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc

Trường hợp các bên không có thỏa thuận khác, việc thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc được quy định như sau:

1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn phải chọn Trọng tài viên và thông báo cho nguyên đơn biết Trọng tài viên mà mình chọn. Hết thời hạn này, nếu bị đơn không thông báo cho nguyên đơn tên Trọng tài viên mà mình chọn và các bên không có thỏa thuận khác về việc chỉ định Trọng tài viên, thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn;

2. Trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn, thì các bị đơn phải thống nhất chọn Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu kèm theo. Hết thời hạn này, nếu các bị đơn không chọn được Trọng tài viên và nếu các bên không có thỏa thuận khác về việc chỉ định Trọng tài viên, thì một hoặc các bên có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên cho các bị đơn;

3. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được các bên chọn hoặc được Tòa án chỉ định, các Trọng tài viên bầu một Trọng tài viên khác làm Chủ tịch Hội đồng trọng tài. Trong trường hợp không bầu được Chủ tịch Hội đồng trọng tài và các bên không có thỏa thuận khác thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền chỉ định Chủ tịch Hội đồng trọng tài;

4. Trong trường hợp các bên thỏa thuận vụ tranh chấp do một Trọng tài viên duy nhất giải quyết nhưng không chọn được Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện, nếu các bên không có thỏa thuận yêu cầu một Trung tâm trọng tài chỉ định Trọng tài viên, thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án có thẩm quyền chỉ định Trọng tài viên duy nhất;

5. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của các bên quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 của Điều này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phải phân công một Thẩm phán chỉ định Trọng tài viên và thông báo cho các bên.”

3. Quy định về trọng tài thường trực

Trọng tài thường trực là hình thức trọng tài có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, hoạt động theo điều lệ riêng, thường xuyên tồn tại để giải quyết tranh chấp thuộc thẩm quyền của mình khi được các bên tranh chấp yêu cầu.
 
Trọng tài thường trực có trụ sở, bộ máy giúp việc, danh sách trọng tài viên và quy tắc tố tụng của mình. Khi giải quyết tranh chấp qua trọng tài thường trực, các bên bị ràng buộc bởi danh sách trọng tài viên và quy tắc tố tụng của trung tâm. Hoạt động của trọng tài thường trực thể hiện tính chuyên nghiệp cao, rất tin cậy trong việc giải quyết tranh chấp.
 
Trên thế giới, trọng tài thường trực thường tồn tại dưới dạng công tí phí lợi nhuận với tên gọi là trung tâm trọng tài, như Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông (HKIAC), Trung tâm trọng tài quốc tế Xingapo (SIAC)... Nhiều trung tâm trọng tài thường trực được đặt dưới sự bảo trợ của nhà nước hoặc đặt cạnh phòng thương mại và công nghiệp.
 
Ở Việt Nam, trọng tài thường trực được thành lập dưới hình thức các trung tâm trọng tài như Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC), các trung tâm trọng tài được thành lập theo Nghị định số 116/CP ngày 5.9.1994 của Chính phủ trước đây và Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 hiện nay.

Đặc điểm của trọng tài thường trực

Ở các quốc gia khác nhau, trọng tài thường trực thường có các tên gọi khác nhau, như: Trung tâm trọng tài, Ủy ban trọng tài, Viện trọng tài, Hội đồng trọng tài quốc gia và quốc tế.

Cơ cấu tổ chức của trọng tài thường trực thông thường bao gồm: bộ phận thường trực (Ban quản trị và phòng thư kí); các hội đồng trọng tài (được thành lập khi có vụ việc). Bên cạnh đó còn có bộ phận giúp việc.

4. Ưu – Nhược điểm của trọng tài vụ việc và trọng tài thường trực

– Về hình thức: Trọng tài vụ việc, có nhiều cách hiểu về thuật ngữ này, tuy nhiên có thể hiểu là hình thức trọng tài này do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết vụ tranh chấp giữa các bên và trọng tài sẽ tự chấm dứt tồn tại khi giải quyết xong vụ tranh chấp. Nói một cách khác, Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài tự tiến hành.

Bản chất của hình thức Trọng tài vụ việc thể hiện qua các đặc trưng cơ bản là:

– Trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự chấm dứt hoạt động khi giải quyết xong tranh chấp.

– Trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành, không có danh sách trọng tài viên.

– Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình.

Trọng tài vụ việc tuy được quy định trong Luật trọng tài thương mại 2010 nhưng chưa phát triển trên thực tế, một phần vì nếu lựa chọn sử dụng trọng tài vụ việc, các bên phải tự thực hiện toàn bộ quy trình với hội đồng trọng tài mà không có sự hỗ trợ bởi một Ban thư ký thường trực và vì vậy cần có kinh nghiệm tham gia tố tụng trọng tài trước đó.

Ưu điểm: lợi thế của hình thức Trọng tài vụ việc là quyền tự định đoạt của các bên là rất lớn. Thủ tục giải quyết của Trọng tài vụ việc là hoàn toàn do các bên tự thỏa thuận cho riêng họ và các Trọng tài viên phải tuân theo. Nếu các bên đều hợp tác để thực hiện đầy đủ thì vụ việc có thể giải quyết nhanh chóng và ít tốn kém; quyền lựa chọn trọng tài viên của các bên không bị giới hạn bởi danh sách trọng tài viên như Trọng tài quy chế; các bên tranh chấp có quyền rộng rãi trong việc xác định quy tắc tố tụng để giải quyết tranh chấp giữa các bên, các bên có thể thỏa thuận để bỏ qua một số thủ tục tố tụng không cần thiết và qua đó rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp.

Nhược điểm: Không có một bộ máy điều hành để giám sát và hỗ trợ, do đó nếu khi gặp phải những sự kiện phát sinh ngoài dự tính các bên không nhận được sự hỗ trợ từ một cơ quan thường trực hay từ các chuyên gia như hình thức Trọng tài quy chế thì rất có thể các Trọng tài viên sẽ không thể giải quyết được. Hơn nữa, ở nước ta hiện nay, Trọng tài viên hầu hết xuất phát điểm từ nhiều lĩnh vực khác nhau, chưa được đào tạo một cách bài bản nên không tránh khỏi những vấn đề phát sinh mà không thể giải quyết được trong quá trình tố tụng.

– Về hình thức : Trọng tài quy chế,  là hình thức trọng tài được thành lập dưới dạng các trung tâm, tổ chức hoặc hiệp hội, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có trụ sở cố định và hầu hết các tổ chức trọng tài đều có Quy tắc tố tụng trọng tài riêng và Danh sách trọng tài viên riêng.

Trọng tài thường trực (trọng tài quy chế) là hình thức trọng tài được tổ chức chặt chẽ, có bộ máy, trụ sở làm việc thường xuyên, thường có danh sách trọng tài viên hoạt động theo điều lệ và quy tắc tố tụng riêng. Hầu hết các tổ chức trọng tài lớn, có uy tín trên thế giới đều được thành lập theo mô hình này dưới những tên gọi như trung tâm trọng tài, ủy ban trọng tài, viện trọng tài, hội đồng trọng tài quốc gia và quốc tế… nhưng chủ yếu và phổ biến được tổ chức dưới dạng các trung tâm trọng tài.

Ưu điểm:

– Điểm thuận lợi nhất của hình thức này là các thủ tục, các giai đoạn, quy trình tố tụng được quy định chi tiết từ lúc bắt đầu tố tụng cho đến khi kết thúc. Điều này đảm bảo trong hầu hết mọi trường hợp tranh chấp sẽ được giải quyết không quá phụ thuộc vào việc một bên có tham gia vào quá trình tố tụng trọng tài hay không.

– Hầu hết các tổ chức trọng tài đều có những chuyên gia/chuyên viên được đào tạo tốt để hỗ trợ, các chuyên gia/chuyên viên này sẽ giám sát để đảm bảo việc một Hội đồng trọng tài được thành lập, các khoản phí trọng tài sẽ được nộp đủ, đúng hạn và đảm bảo quá trình tố tụng được diễn ra đúng thời hạn đã vạch ra trước đó.

Nhược điểm:

– Tốn kém nhiều chi phí. Bao gồm các khoản phí như thù lao cho các Trọng tài viên và các chi phí hành chính khác.

– Do các bên phải tuân thủ thời hạn của Quy tắc tố tụng nên các bên không thể rút ngắn thời hạn bất kì nếu muốn như hình thức Trọng tài vụ việc ở trên.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến hoạt động, thẩm quyền của tổ chức trọng tài thương mại cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua tổ chức này sẽ được luật sư của công ty luật Minh khuê tư vấn và giải đáp cụ thể qua tổng đài: 1900.6162.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê