1 Quy định chung về khiểu nại,tố cáo
1.1 Khái niệm và thực tiễn
Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bị xâm phạm, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Theo các văn bản pháp luật hiện nay, khiếu nại, tố cáo được quy định như sau:
Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật Tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo không những có vai trò quan trọng trong quản lý Nhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật do mình ban hành, từ đó có cơ sở thực tiễn để hoàn thiện các chủ trương đường lối của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước. Do vậy, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là một vấn đề được Đảng, Nhà nước và nhân dân đặc biệt quan tâm.
Theo Thanh tra Chính phủ, năm 2014, tình hình khiếu nại, tố cáo có xu hướng giảm so với năm 2013, số lượt công dân đến cơ quan hành chính Nhà nước để khiếu nại, tố cáo giảm 1,8%; số đơn thư khiếu nại, tố cáo giảm 3,39%; số vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giảm 9,54%, 39/63 tỉnh, thành phố số vụ khiếu nại, tố cáo giảm. Tuy nhiên, số lượt đoàn đông người tiếp tục tăng so với năm 2013 là 12,1%; có đoàn lên tới vài trăm người với thái độ bức xúc, gay gắt, nhiều lần tập trung lên Trung ương; có 12/63 địa phương số lượng đơn khiếu nại, tố cáo tăng cao.
Nội dung khiếu nại hành chính chủ yếu là về lĩnh vực đất đai, chiếm 68,2% số đơn khiếu nại; khiếu nại về nhà ở chiếm 8,18%, khiếu nại về chế độ, chính sách chiếm 7,62%; trong lĩnh vực văn hoá, xã hội và lĩnh vực hành chính khác chiếm 11,73%; khiếu nại trong lĩnh vực tư pháp chiếm 4,0%, khiếu nại về kỷ luật Đảng chiếm 0,2%. Qua giải quyết khiếu nại, tố cáo có khoảng 59% trường hợp khiếu nại sai và 63,2 % tố cáo sai, cho thấy nhận thức và hiểu biết pháp luật của công dân còn hạn chế nhất định
1.2 Nguyên nhân dẫn đến khiếu nại tố cáo sai
Một số cơ quan có thẩm quyền chưa quan tâm đúng mức đến công tác tiếp công dân; một số bộ phận cán bộ, công chức thiếu gương mẫu, sa sút về phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn của người tiếp công dân còn hạn chế; người dân chưa hiểu đúng nghĩa vụ, quyền lợi trong giải quyết khiếu nại, tố cáo; công tác tuyên truyền, giáo dục và quán triệt các chủ trương, chính sách pháp luật về khiếu nại tố cáo còn kém hiệu quả….
Vì vậy, để giảm thiểu khiếu nại tố cáo thì chúng ta cần phải nâng cao chất lượng hiệu quả giải quyết khiếu nại tố cáo, từng bước giảm bớt khiếu nại, tố cáo nhất là các vụ việc phức tạp, dai dẳng, đông người. Yêu cầu trước hết là người đứng đầu áp dụng biện pháp đối thoại trực tiếp với người khiếu nại tố cáo một cách tích cực, thực hiện thường xuyên; người dân hiểu và thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình khi khiếu nại, tố cáo, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định xử lý tố cáo đã có hiệu lực pháp luật; Tăng cường mối quan hệ và sự phối hợp giữa chính quyền và các tổ chức đoàn thể trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khiếu nại, tố cáo, giải quyết các tranh chấp phát sinh từ xã, phường, thị trấn, góp phần hạn chế khiếu nại, tố cáo tràn lan, vượt cấp. Các cấp, các ngành cần đề cao trách nhiệm, chủ động thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, dễ phát sinh đơn thư khiếu nại tố cáo như: quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản, quản lý thu - chi tài chính, chế độ chính sách
2 Xử lý đảng viên vi phạm quy định về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15/11/2017 của Ban Chấp hành Trung ương “Quy định xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm”.
Cụ thể, Điều 15, Chương III, Quy định số 102-QĐ/TW nêu rõ:
Điều 15. Vi phạm về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo
- Đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:
a) Viết đơn tố cáo giấu tên, mạo tên. Cùng người khác tham gia viết, ký tên trong cùng một đơn tố cáo.
b) Tham gia hoặc bị người khác xúi giục, kích động, cưỡng ép, mua chuộc tham gia khiếu nại, tố cáo đông người gây mất trật tự, an toàn xã hội.
c) Có trách nhiệm thụ lý, giải quyết tố cáo nhưng tiết lộ họ tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin, tài liệu khác làm lộ danh tính người tố cáo, nội dung tố cáo; tiết lộ các thông tin, tài liệu, chứng cứ của vụ việc cho tổ chức hoặc cá nhân không có trách nhiệm biết.
d) Thiếu trách nhiệm, gây phiền hà, sách nhiễu trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc gây khó khăn, cản trở đảng viên, công dân trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo.
đ) Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, đầy đủ trách nhiệm bảo vệ người tố cáo.
e) Không thực hiện các yêu cầu, kiến nghị, kết luận, quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về khiếu nại, tố cáo.
- Trường hợp đã bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Khoản 1 Điều này mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ):
a) Cố ý trì hoãn hoặc trốn tránh trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.
b) Làm sai lệch hồ sơ vụ việc trong quá trình thẩm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị giải quyết khiếu nại, tố cáo; báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh không đúng sự thật.
c) Cố ý không chấp hành quyết định cuối cùng về tố cáo và kết luận, quyết định giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
d) Vu cáo, vu khống hoặc cản trở người đang làm nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc can thiệp trái quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tung tin sai sự thật về việc tố cáo và giải quyết tố cáo.
đ) Đe dọa, trả thù, trù dập, xúc phạm người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ về hành vi tham nhũng, tiêu cực hoặc người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo.
e) Tổ chức, tham gia, kích động, xúi giục, mua chuộc, cưỡng ép người khác khiếu nại, tố cáo.
g) Tố cáo mang tính bịa đặt, vu khống, đả kích, bôi nhọ thanh danh, gây tổn hại đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác.
- Trường hợp vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các trường hợp sau thì kỷ luật bằng hình thức khai trừ:
a) Tổ chức, cưỡng ép, kích động, xúi giục, giúp sức, dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo người khác khiếu nại, tố cáo sai sự thật hoặc gây áp lực, đòi yêu sách hoặc tập trung đông người khiếu nại, tố cáo gây rối an ninh, trật tự công cộng.
b) Lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo để gây rối trật tự, gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân để chống Đảng, Nhà nước; xuyên tạc, đe dọa, xúc phạm nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giải quyết hoặc xâm phạm tính mạng của người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo
3 Quy định của Đảng về giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng của đảng viên
Bạn anh A là đảng viên và bị đảng ủy xã kỷ luật, đồng chí gửi đơn khiếu nại đến Ủy ban kiểm tra huyện ủy và ban thường vụ huyện ủy. Theo quy định hiện hành, Ủy ban kiểm tra huyện ủy có trách nhiệm giải quyết. Tuy nhiên, Ban thường vụ huyện ủy yêu cầu để Ban thường vụ lập đoàn giải quyết luôn. Vậy, quyết định của Ban thường vụ có đúng với quy định của Đảng không?
Điều 32, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26/7/2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng quy định:
“Uỷ ban kiểm tra cấp trên giải quyết khiếu nại kỷ luật do tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp đã quyết định kỷ luật hoặc đã quyết định giải quyết khiếu nại”.
Điểm 7.1, Khoản 7, Điều 39, Quy định số 30 nêu trên cũng quy định:
“Việc giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng được tiến hành từ đảng uỷ cơ sở, đảng uỷ cấp trên cơ sở, uỷ ban kiểm tra, ban thường vụ cấp uỷ hoặc cấp uỷ từ cấp huyện và tương đương trở lên.
Đảng viên là cấp uỷ viên các cấp, thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý, chi bộ đã quyết định xử lý kỷ luật theo thẩm quyền, nếu có khiếu nại thì do cấp uỷ cơ sở hoặc ban thường vụ cấp uỷ quản lý đảng viên đó giải quyết khiếu nại kỷ luật lần đầu.”
Như vậy, căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp câu hỏi nêu, do đảng viên bị kỷ luật không phải là cấp ủy viên các cấp, không phải là cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý, nên thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của ủy ban kiểm tra huyện ủy. Sau khi giải quyết khiếu nại, nếu đảng viên khiếu nại tiếp thì ban thường vụ huyện ủy lập đoàn giải quyết khiếu nại theo quy định. Ủy ban kiểm tra huyện ủy cần báo cáo, đề nghị ban thường vụ huyện ủy xem xét lại việc chỉ đạo cho đúng quy định của Đảng về giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng của đảng viên.
Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết , Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê
Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!