1. Quy phạm pháp luật là gì ?

Quy phạm pháp luật là hình thức thể hiện của pháp luật thành một quy tắc xử sự nhất định mà chủ thể phải tuân theo trong trường hợp cụ thể do Nhà nước quy định, và được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước. Quy phạm pháp luật là thành tố nhỏ nhất của hệ thống pháp luật. Nó là quy tắc xử sự chung, là chuẩn mực để mọi người phải tuân theo, là tiêu chuẩn để đánh giá hành vi của con người. Thông qua quy phạm pháp luật ta biết được hoạt động nào phù hợp với pháp luật, hoạt động nào trái pháp luật.

Quy phạm pháp luật là một loại quy phạm xã hội, là những quy tắc xử sự chung bắt buộc mọi người thực hiện, do nhà nước xác lập, ban hành và bảo đảm việc thực hiện, để điều chỉnh các hành vi của cá nhân hoặc tổ chức theo ý chí của nhà nước.

 

2. Cơ cấu của quy phạm pháp luật là gì ?

Mỗi quy phạm pháp luật được đặt ra nhằm để điều chỉnh một quan hệ xã hội nhất định. Do đó, về nguyên tắc chung mỗi quy phạm pháp luật phải trả lời được 3 vấn đề sau đây: - Quy phạm pháp luật này nhằm áp dụng vào các trường hợp nào? - Gặp trường hợp đó, Nhà nước yêu cầu người ta xử sự như thế nào? - Nếu xử sự không đúng với yêu cầu của Nhà nước thì Nhà nước sẽ tác động (phản ứng) như thế nào? Ba vấn đề trên là ba bộ phận cấu thành của một quy phạm pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau là: giả định, quy định, và chế tài. Lưu ý, về nguyên tắc chung thì một quy phạm pháp luật được cấu thành bởi 3 bộ phận là giả định, quy định, và chế tài. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi quy phạm pháp luật đều chứa đựng đủ cả 3 bộ phận này.

a) Giả định Giả định là bộ phận nêu lên những hoàn cảnh, điều kiện, tình tiết có thể xảy ra trong cuộc sống, và cá nhân hoặc tổ chức nào ở trong hoàn cảnh, điều kiện đó cần phải xử sự theo các quy định trong quy phạm pháp luật. Giả định phải sát với thực tế cuộc sống thì quy phạm mới có thể áp dụng được, mới phát huy tác dụng thiết thực.

b) Quy định Quy định là phần nêu rõ cách xử sự phải theo khi gặp trường hợp nói ở phần giả định, nêu rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể. Quy định là bộ phận cơ bản của quy phạm pháp luật, không có quy định thì không thành quy phạm pháp luật. Quy định phải thể hiện đúng đắn, chính xác ý chí của Nhà nước, phải được trình bày thế nào để bảo đảm không thể hiểu sai, hiểu theo nhiều cách khác nhau.

c) Chế tài Chế tài là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động mà nhà nước dự kiến sẽ áp dụng đối với chủ thể nào không thực hiện đúng mệnh lệnh của nhà nước đã nêu ở phần quy định của quy phạm pháp luật. Chế tài pháp luật chính là những hậu quả bất lợi đối với chủ thể vi phạm pháp luật. Đây là thái độ của nhà nước đối với họ đảm bảo cần thiết cho những quy định của nhà nước được thực hiện. Có các loại chế tài như: chế tài hình sự, chế tài hành chính, chế tài kỷ luật, chế tài dân sự.

* Hãy cho biết các bộ phận cấu thành giả định, quy định, chế tài của các qui phạm pháp luật sau đây:

a) Điều 108 Hiến pháp năm 1992 quy định: Trong trường hợp khuyết Chủ tịch nước, thì Phó Chủ tịch quyền Chủ tịch cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch nước mới.

b) Điều 102 Bộ luật hình sự - 1999 quy định:

“Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”.

 

3. Phân loại các quy phạm pháp luật 

Căn cứ vào đặc điểm của các ngành luật, quy phạm pháp luật có thể phân chia thành: quy phạm pháp luật hình sự, quy phạm pháp luật dân sự, quy phạm pháp luật hành chính v.v. . . .

- Căn cứ vào nội dung của quy phạm pháp luật có thể chia thành: quy phạm pháp luật định nghĩa, và quy phạm pháp luật điều chỉnh. - Căn cứ vào hình thức mệnh lệnh nêu trong quy phạm pháp luật có thể chia thành quy phạm pháp luật dứt khoát, quy phạm pháp luật tuỳ nghi, quy phạm pháp luật hướng dẫn.

- Căn cứ vào cách trình bày quy phạm pháp luật có thể chia thành quy phạm pháp luật bắt buộc, quy phạm pháp luật cấm đoán, quy phạm pháp luật cho phép.

 

4. Khái niệm quan hệ pháp luật và đặc điểm 

Trong cuộc sống, giữa người với người có rất nhiều mối quan hệ với nhau gọi là quan hệ xã hội (quan hệ xã hội bao gồm: quan hệ vật chất và quan hệ ý thức). Những quan hệ xã hội nào do quy phạm pháp luật điều chỉnh gọi là quan hệ pháp luật. Có thể định nghĩa quan hệ pháp luật là quan hệ giữa những người, những bên có quyền và nghĩa vụ pháp lý qua lại và được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước.

Quan hệ pháp luật có các đặc điểm cơ bản sau đây:

– Thứ nhất, quan hệ pháp luật phát sinh trên cơ sở các quy phạm pháp luật.

Nếu không có quy phạm pháp luật thì không có quan hệ pháp luật. Quy phạm pháp luật dự liệu những tình huống phát sinh quan hệ pháp luật; xác định thành phần chủ thể tham gia quan hệ pháp luật; nội dung những quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý.

– Thứ hai, quan hệ pháp luật mang tính ý chí.

Tính ý chí này trước hết là ý chí của nhà nước, vì pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận. Sau đó ý chí của các bên chủ thể tham gia QHPL, vì hành vi của cá nhân, tổ chức là hành vi có ý chí.

–  Thứ ba, các bên tham gia quan hệ pháp luật ràng buộc với nhau bằng các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý.

Đây chính là yếu tố làm cho quan hệ pháp luật được thực hiện. Quyền của chủ thể này là nghĩa vụ của chủ thể kia và ngược lại.

– Thứ tư, quan hệ pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện và có thể cả bằng biện pháp cưỡng chế.

Trước hết, nhà nước bảo đảm thực hiện quan hệ pháp luật bằng biện pháp giáo dục thuyết phục. Bên cạnh đó nhà nước còn bảo đảm thực hiện pháp luật bằng biện pháp kinh tế, tổ chức – hành chính. Những biện pháp đó không có hiệu quả khi áp dụng, thì khi cần thiết nhà nước sử dụng biện pháp cưỡng chế.

– Thứ năm, quan hệ pháp luật mang tính cụ thể.

Bởi vì QHPL xác định cụ thể chủ thể tham gia quan hệ, nội dung các quyền và nghĩa vụ pháp lý.

 

5. Các thành phần của quan hệ pháp luật 

Mỗi quan hệ pháp luật có 3 thành phần cơ bản sau đây: - Chủ thể của quan hệ pháp luật; - Nội dung của quan hệ pháp luật; - Khách thể của quan hệ pháp luật.

- Chủ thể của quan hệ pháp luật: Chủ thể của quan hệ pháp luật là những cá nhân, tổ chức dựa trên cơ sở của quy phạm pháp luật, có thể trở thành các bên tham gia quan hệ pháp luật. Mỗi quan hệ pháp luật bao gồm ít nhất 2 chủ thể (quan hệ pháp luật đơn giản), và có thể bao gồm nhiều chủ thể (quan hệ pháp luật phức tạp). Pháp luật quy định có 3 loại chủ thể cơ bản sau đây: a) Chủ thể là công dân Công dân là chủ thể của quan hệ pháp luật phải là người đang sống và có năng lực pháp luật, đôi khi phải có cả năng lực hành vi. - Năng lực pháp luật là khả năng của người công dân được hưởng quyền và làm nghĩa vụ do pháp luật quy định để họ có thể tham gia vào các quan hệ pháp luật cụ thể. - Năng lực hành vi là khả năng của một người bằng hành vi của chính bản thân tự tạo ra cho mình quyền và nghĩa vụ hoặc tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý. b) Chủ thể là Nhà nước: Nhà nước nói chung (không phải là từng cơ quan nhà nước riêng biệt) là chủ thể của các quan hệ pháp luật trong luật Hiến pháp, quan hệ pháp luật thuộc công pháp quốc tế, quan hệ pháp luật hình sự v.v.. .. c) Chủ thể là pháp nhân: Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: 1- Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận; 2- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; 3- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; 4- Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. * Thành lập pháp nhân: Pháp nhân có thể được thành lập theo sáng kiến của cá nhân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc thành lập pháp nhân phải tuân theo thủ tục do pháp luật quy định.

- Nội dung của quan hệ pháp luật Nội dung của quan hệ pháp luật là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể tương ứng của các chủ thể.

- Khách thể của quan hệ pháp luật Khách thể của quan hệ pháp luật là những gì mà các bên chủ thể mong muốn đạt được khi tham gia vào quan hệ pháp luật. Khách thể quan hệ pháp luật phản ánh lợi ích của chủ thể. Vì vậy, sự quan tâm nhiều hay ít của chủ thể tới khách thể là động lực thúc đẩy sự phát sinh, tồn tại, hay chấm dứt quan hệ pháp luật.

 

6. Những điều kiện làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ quan hệ pháp luật

Muốn làm phát sinh, thay đổi, hoặc đình chỉ quan hệ pháp luật cần 2 điều kiện: - Phải có quy phạm pháp luật điều chỉnh; và - Phải có sự kiện pháp lý phát sinh.

Sự kiện pháp lý là sự kiện xảy ra trong đời sống phù hợp với điều kiện đã dự kiến trong pháp luật, và do đó làm phát sinh quan hệ giữa những chủ thể nhất định. Có 2 loại sự kiện pháp lý:

1. Sự kiện pháp lý phi ý chí (sự biến): Sự biến là sự kiện phát sinh không phụ thuộc vào ý chí của con người nhưng lại làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa những chủ thể nhất định. Ví dụ: chết, sinh tự nhiên hoặc các hiện tượng tự nhiên khác.

2. Sự kiện pháp lý có ý chí (hành vi). Sự biến là sự kiện phát sinh thuộc vào ý chí của con người làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa những chủ thể. Ví dụ: các bên ký hợp đồng, A và B đến uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi một trong hai bên có hộ khẩu thường trú xin đăng ký kết hôn.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)