Các quy định của pháp luật về vấn đề này là cơ sở, là công cụ cho các cơ quan, có thẩm quyền của Nhà nưốc thực hiện việc theo dõi, giám sát, quản lý Nhà nưởc đối vối việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan trọng tài.

Tất cả các tổ chức trọng tài đều có quy tắc tố tụng của mình. Nếu là trọng tài ad hoc thì quy tắc tố tụng do chính các bên đương sự thoả thuận hoặc giao cho trọng tài viên duy nhẩt hay uỷ ban trọng tài xem xét quyết định phù hợp với quy định của pháp luật. Nếu là tổ chức trọng tài thường trực thì phải có bản quy tắc tố tụng định sẵn của mình được xây dựng phù hợp với quy định của pháp luật về tố tụng trọng tài.

Thông thường bản quy tắc tố tụng của mỗi tổ chức trọng tài đều khẳng định phạm vi thẩm quyền của tổ chức trong việc giải quyết các tranh chấp và trình tự, thủ tục tố tụng.

Ví dụ, theo bản quy tắc tố tụng của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam, thủ tục tố tụng được quy định cụ thể như sau:

1. Về đơn kiện

Thủ tục tố tụng bắt đầu bằng một đơn kiện do nguyên đơn nộp cho Trung tâm Trọng tài phù hợp vối nội dung của thoả thuận trọng tài.

Đơn kiện phải có đầy đủ các nội dung quy định như: tên và địa chỉ của nguyên đơn và bị đơn; các yêu cầu của nguyên đơn, có trình bày sự việc kèm theo bằng chứng; những căn cứ pháp lý mà nguyên đơn dựa vào đó để đi kiện; trị giá của vụ kiện; tên trọng tài viên mà nguyên đơn chọn trong danh sách trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài, hoặc đề nghị Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định trọng tài viên cho mình. Đơn kiện phải viết bằng tiếng Việt Nam hay bằng một thứ tiếng nước ngoài thông dụng trong giao dịch quốc tế như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga.

Đơn kiện và các giấy tò kèm theo phải nộp một bản chính và một số bản sao để gửi cho các trọng tài viên xét xử vụ kiện và cho bị đơn. mỗi người một bản.

Khi gửi đơn kiện, nguyên đơn phải ứng trước vào tài khoản của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam toàn bộ phí trọng tài tính theo “Biểu phí trọng tài, phí tổn của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam và chi phí của các bên”. Chứng từ nộp tiền phải gửi kèm theo đơn kiện. Nếu nguyên đơn không ứng trưốc toàn bộ phí trọng tài, thì vụ kiện chưa được thụ lý.

2.Về chọn và chỉ định trọng tài viên

Sau khi nhận được đơn kiện, Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam báo cho bị đơn biết và gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện và các tài liệu kèm theo cùng với danh sách trọng tài viên, đồng thời yêu cầu bị đơn gửi đến Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam bản tự bào chữa, kèm theo những bằng chứng trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản sao đơn kiện. Thời hạn này có thể được kéo dại nl ưng không quá 2 tháng. Trong thời hạn này, bị đơn phải chọn trọng tài viên và báo cho Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam biết hoặc yêu cầu Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam chỉ định cho mình trọng tài viên; nếu bị đơn không tự chọn và cũng không yêu cầu Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tê Việt Nam chọn trọng tài viên, thì Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam chỉ định trọng tài viên cho bị đơn.

Các trọng tài viên được các bên chọn hoặc được chỉ định sẽ bầu một trọng tài viên thứ ba trong Danh sách trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam làm Chủ tịch uỷ ban trọng tài phụ trách việc giải quyết vụ kiện. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày chọn trọng tài viên thứ hai, nếu các trọng tài viên không thoả thuận được để chọn trọng tài viên thứ ba, thì Chủ tịch trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam sẽ chỉ định Chủ tịch uỷ ban trọng tài.

Các bên đương sự có thể thoả thuận chọn một trọng tài viên hoặc đề nghị Chủ tịch Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam chỉ định một trọng tài viên để giải quyết vụ kiện. Trọng tài viên duy nhất này giải quyết vụ kiện như một uỷ ban trọng tài.

Các bên đương sự có quyền khước từ trọng tài viên, Chủ tịch uỷ ban trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất, nếu nghi ngờ về sự vô tư của trọng tài viên, nhất là khi họ cho rằng trọng tài viên có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến vụ tranh chấp. Bản thân các trọng tài viên cũng có quyền khước từ vì những lý do này. Nếu việc khước từ được công nhận, trọng tài viên mới, Chủ tịch uỷ ban trọng tài mói hay trọng tài viên duy nhất mổi sẽ được chọn hoặc chỉ định để giải quyết vụ kiện.

3.Về đơn phản kiện

Trước khi uỷ ban trọng tài họp xét xử, bị đơn có quyền phản kiện. Đơn phản kiện cũng phải tuân theo các quy định cho đơn kiện chính. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo về đơn phản kiện, nguyên đơn phải thông báo bằng văn bản về ý kiến của mình cho Uỷ ban trọng tài. Đơn phản kiện được xét xử cùng một lúc vối đơn kiện chính.

4.Điều tra trước khi xét xử

Trọng tài viên được chọn hoặc được chỉ định có quyền và trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ bằng mọi biện pháp thích hợp; có quyền tiếp cận trực tiếp với các bên để nghe các đương sự trình bày ý kiến, có quyền tìm hiểu sự việc từ những người khác; có quyền mời giám định viên và xác định nhiệm vụ cho giám định viên; nhận báo cáo hay trực tiếp nghe giám định viên trình bày báo cáo.

Uỷ ban trọng tài phải kiểm tra việc chuẩn bị xét xử; áp dụng các biện pháp cần thiết như yêu cầu các đương sự cung cấp các bản giải thích, các bằng chứng và các tài liệu khác liên quan và quy định thời hạn cho việc thực hiện các công việc này.

5. Thủ tục xét xử

Ngày xét xử do Chủ tịch uỷ ban trọng tài quyết định. Các bên đương sự phải được triệu tập đến phiên họp xét xử bằng văn bản, có ghi rõ thời gian và địa điểm xét xử;

Việc xét xử được tiến hành ỏ Hà Nội. Nếu cần thiết hoặc các bên đương có yêu cầu, Chủ tịch uỷ ban trọng tài có thể tiến hành xét xử ỏ một địa điểm khác trên lãnh thổ Việt Nam.

Các bên có thể trực tiếp tham gia vào quá trình xét xử hoặc uỷ quyền cho người khác là công dân Việt Nam hay người nước ngoài thay mặt, nhưng phải có giấy uỷ quyền hợp lệ và có thể mời luật sư để bảo vệ quyền lợi cho mình. Nếu một hoặc các bên đương sự vắng mặt không có lý do chính đáng, uỷ ban trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất vẫn được phép tiến hành xét xử căn cứ vào tài liệu và chứng cứ đã có. Nếu các bên chấp nhận hoặc yêu cầu, tranh chấp được xét xử mà không cần sự có mặt của các bên đương sự. Uỷ ban trọng tài dùng tiếng Việt Nam khi xét xử. Các bên đương sự có thể yêu cầu Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam cung cấp phiên dịch và phải trả tiền thuê phiên dịch.

Khi xét xử, Uỷ ban trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất căn cứ vào các điều khoản hợp đồng, vào pháp luật được áp dụng cho vụ tranh chấp, vào các điều ước quốc tế có liên quan và có tính đến các tập quán thương mại và thông lệ quốc tế. Các trọng tài viên phải đánh giá sự việc theo cách hiểu của mình một cách khách quan, trung thực.

Trọng tài xét xử không công khai. Nếu có sự đồng ý của các bên đương sự, uỷ ban trọng tài có thể cho phép người không tham gia vụ kiện dự phiên họp xét xử.

Khi quyết định, uỷ ban trọng tài biểu quyết theo đa số. Nếu không đạt được biểu quyết theo đa số thì Chủ tịch uỷ ban trọng tài sẽ đưa ra quyết định như trọng tài viên duy nhất.

Phiên họp xét xử phải được ghi thành biên bản có chữ ký của thư ký phiên họp và của Chủ tịch uỷ ban trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất. Các bên đương sự có quyền tìm hiểu nội dung của biên bản. Những điểm thay đổi hoặc bổ sung .biên bản theo yêu cầu của một bên hoặc các bên do uỷ ban trọng tài quyết định.

6.  Kết thúc xét xử

Phán quyết của trọng tài phải có các nội dung sau đây: tên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam; địa điểm và ngày tuyên quyết định; họ và tên trọng tài viên; tên của các bên và những người tham gia vụ kiện; đối tượng của vụ tranh chấp và tóm tắt diễn biến sự việc; quyết định về vụ kiện, quyết định về phí trọng tài và các phí khác; cơ sỏ của các quyết định này; chữ ký của các trọng tài viên và của thư ký phiên họp.

Quyết định của trọng tài được công bô' ngay sau khi kết thúc phiên họp xét xử cuối cùng, hoặc có thể công bố sau.

Toàn văn bản quyết định phải được gửi cho các bên đương sự chậm nhất là 30 ngày sau phiên họp xét xử cuối cùng.

+ Uỷ ban trọng tài có thế ra quyết định bổ sung, nếu thấy rằng bản quyết định đã được tuyên có điểm chưa rõ hoặc chưa được giải quyết; căn cứ vào yêu cầu của các bên hoặc theo sáng kiến của mình, uỷ ban trọng tài có thể quyết định sửa chữa những điểm in sai hoặc nhầm lẫn về mặt kỹ thuật tính toán nhưng không làm thay đổi nội dung của bản quyết định và bản chất vụ kiện. Quyết định sửa đổi bổ sung này là bộ phận của bản quyết định trọng tài.

+ Phán quyết của trọng tài là chung thẩm, không thể kháng cáo trước bất kỳ toà án hoặc tổ chức nào. Các bên đương sự phải tự nguyện thi hành trong thời hạn quy định trong phán quyết. Nếu phán quyết không được tự nguyện thi hành thì sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật nơi phán quyết được yêu cầu thi hành và theo các quỵ định của các điều ước quốc tế có liên quan đến vụ kiện.

+ Uỷ ban trọng tài có thể ra quyết định kết thúc vụ kiện trong các trường hợp sau đây: nếu nguyên đơn rút đơn kiện; các bên đương sự thoả thuận trực tiếp mà không cần đến việc xét xử của trọng tài (trong quá trình tố tụng, các bên đương sự vẫn có quyền thoả thuận trực tiếp để tự giải quyết tranh chấp và yêu cầu Chủ tịch uỷ ban trọng tài xác nhận sự thoả thuận đó bằng văn bản. Văn bản này có giá trị như một quyết định trọng tài); khi thiếu các điều kiện cần thiết để xem xét và giải quyết vụ kiện. Trong trường hợp này Chủ tịch uỷ ban trọng tài ấn định phí trọng tài mà mỗi bên phải chịu.

Các quy định về quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam nêu trên hoàn toàn phù hợp với các quy định của Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế năm 1985 của Uỷ ban của Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế và với thông lệ quốc tế. Các quy định này nên được khẳng định trong văn bản pháp luật của Việt Nam về Trọng tài kinh tế đang được soạn thảo và sắp được ban hành trong thời gian tới.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)