1. Thế nào được coi là có hành vi vi phạm đối với nhãn hiệu?

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân khác nhau. 

Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu được quy định tại Khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019). cụ thể:

Các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu:

- Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng với hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó.

- Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ.

- Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ.

- Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hoá, dịch vụ bất kỳ, kể cả hàng hoá, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hoá hoặc gây ấn tượng sau lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.

Ngoài quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, Điều 11 Nghị định 99/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 126/2021/NĐ-CP quy định về hành vi xâm phạm quyền nhãn hiệu cho mục đích kinh doanh như sau:

- Buôn bán; chào hàng; vận chuyển, kể cả quá cảnh; tàng trữ; trưng bày để bán hàng hoá, dịch vụ xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.

- Đặt hàng, giao việc, thuê người khác thực hiện hành vi buôn bán; chào hàng; vận chuyển, kể cả quá cảnh; tàng trữ, trưng bày để bán hàng hoá, dịch vụ xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.

 

2. Các hình thức xử phạt hành vi vi phạm nhãn hiệu?

Đối với các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiêu, tuỳ theo tính chất, mức độ hành vi và hậu quả hành vi gây ra, chủ thể có hành vi xâm phạm có thể bị chịu trách nhiệm hành chính, dân sự hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

2.1. Trách nhiệm hành chính

Điều 11 Nghị định 93/2013/NĐ-CP quy định đối với các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tuỳ theo tính chất, mức độ hành vi và hậu quả hành vi gây ra, cá nhân có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 250.000 đồng; pháp nhân có thể bị phạt cảnh cáp hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 500.000 đồng.

Ngoài ra còn có các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả:

Hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ vi phạm từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.

Biện pháp khắc phục hậu quả:

- Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm và tiêu huỷ yếu tố vi phạm;

- Buộc tiêu huỷ tang vật, phương tiện vi phạm nếu không loại bỏ được yếu tố vi phạm; tem; nhãn; bao bì, vật phẩm vi phạm;

- Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hàng hoá quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp;

- Buộc thay đổi tên doanh nghiệp, loại bỏ yếu tố vi phạm trong tên doanh nghiệp;

- Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

 

2.2. Trách nhiệm dân sự

Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung 2009, 2019) quy định về các biện pháp dân sự như sau:

Toà án áp dụng các biện pháp dân sự sau đây để xử lý tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ:

- Buộc chấm dứt hành vi xâm pham;

- Buộc xin lỗi, cải chính công khai;

- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;

- Buộc bồi thường thiệt hại;

- Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ;

 

2.3. Trách nhiệm hình sự

Điều 226 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) quy định về Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, theo đó người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hoá giả mạo nhãn hiệu với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hoá vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

 

3. Quy trình xử lý vi phạm nhãn hiệu

Bước 1: Giám định nhãn hiệu tại Viện khoa học Sở hữu trí tuệ

Bước 2: Say khi có kết quả giám định nhãn hiệu, gửi thư cảnh báo đến bên bị nghi ngờ có hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và yêu cầu:

- Ngừng ngay lập tức việc thực hiện hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu;

- Loại bỏ các yếu tố xâm phạm;

- Tiêu huỷ các sản phẩm, tài liệu, giấy tờ liên quan có gắn yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.

Bước 3: Nếu sau khi gửi thư cảnh cáo, bên vi phạm có thái độ không hợp tác, thiện chí thì tổ chức, cá nhân có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm bằng biện pháp hành chính.

Bước 4: Khởi kiện ra Toà án có thẩm quyền hoặc nộp đơn tố cáo nếu xét thấy có đủ yếu tố cấu thành Tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 226 Bộ luật hình sự 2015.

 

4. Dịch vụ Sở hữu trí tuệ tại Luật Minh Khuê

Để được hỗ trợ tư vấn về quy trình xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu, Quý khách hàng vui lòng liên hệ qua số điện thoại 0986 386 648 gặp Luật sư Tô Thị Phương Dung hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: [email protected], đội ngũ Luật sư chuyên viên của Chúng tối sẽ nhanh chóng liên hệ và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý của Quý khách hàng.