- 1. Khái niệm về quỹ ủy thác chung
- 2. Đặc điểm của quỹ ủy thác chung
- 3. Ảnh hưởng quỹ ủy thác chung đến các nhà đầu tư
- 3.1 Lợi ích đối với nhà đầu tư
- 3.2 Rủi ro đối với nhà đầu tư
- 4. Một số thuật ngữ liên quan đến ủy thác thường được sử dụng
- 4.1 Ủy thác CRUMMEY (CRUMMEY TRUST) là gì?
- 4.2 Ủy thác hao hụt (WASTING TRUST) là gì?
- 4.3 Ủy thác totten (TOTTEN TRUST) là gì?
1. Khái niệm về quỹ ủy thác chung
Quỹ ủy thác chung (COMMON TRUST FUND) là quỹ đầu tư tập thể được quản lý bởi bộ phận ủy thác của ngân hàng. Quỹ ủy thác chung tương tự như công ty đầu tư mở rộng hay quỹ hỗ tương, nhưng việc tham gia được giới hạn vào người có tài khoản ủy thác. Quỹ ủy thác chung là một dạng công ty đầu tư của Mỹ phát hành danh mục chứng khoán cố định trong một thời gian xác định. Các quỹ ủy thác chung được liên kết bởi nhà tài trợ và được bán cho nhà đầu tư thông qua các nhà môi giới chứng khoán. Danh mục đầu tư của quỹ có thể bao gồm một vài loại chứng khoán khác nhau. Hai loại chứng khoán chính mà quỹ đầu tư là ủy thác cổ phiếu và ủy thác trái phiếu.
Không giống như quỹ tương hỗ, quỹ đầu tư uỷ thác được lập ra trong một khoản thời gian xác định với một danh mục đầu tư cố định. Điều đó có nghĩa là chứng khoán của quỹ đầu tư uỷ thác không được bán hoặc mua thêm mới (trừ những trường hợp hữu hạn như: công ty bị phá sản hoặc sáp nhập). Công ty uỷ thác cổ phiếu thường nhằm mục đích làm tăng giá trị của đồng vốn và (hoặc) thu nhập từ cổ tức. Họ thường phát hành một lượng đơn vị nhất định trong một thời gian đã được xác định, trước khi thời hạn chào bán chính kết thúc. Công ty uỷ thác vốn cổ phần đưa ra ngày hạn về việc trả nợ và phân phối giá trị tài sản ròng cho các nhà nắm giữ đơn vị. (Nhà đầu tư nắm giữ đơn vị cổ phần có thể có quyền lựa chọn đặc biệt trong việc tái đầu tư số tiền này). Công ty uỷ thác trái phiếu phát hành một số lượng đơn vị nhất định và sau khi trái phiếu đã được bán hết thì thời gian chào bán chính được đóng lại. Khi đó công ty uỷ thác tiếp tục trả số tiền thu nhập hàng tháng cho tới khi trái phiếu tiếp theo được trả. Quá trình này diễn ra cho đến khi toàn bộ trái phiếu được thanh khoản hết từ quỹ.
Uỷ thác trái phiếu nói chung là thích hợp cho những khách hàng tìm kiếm các thu nhập hiện tại và sự ổn định của đồng tiền. Uỷ thác đầu tư có thể được tạo ra thông qua những công ty như Regulated Investment Coporation (RIC) hoặc Grantor Trust. RIC là một dạng công ty mà các nhà đầu tư được tham gia như là chủ sở hữu. Grantor Trust thì ngược lại cho phép nhà đầu tư một phần sở hữu bằng các chứng khoán cơ bản. Quỹ đầu tư uỷ thác được thành lập thông qua một loại giấy tờ gọi là bản giao kèo uỷ thác. Nhà tài trợ của quỹ sẽ soạn ra bản giao kèo này trong đó có tên của công ty được uỷ thác và người đánh giá. Theo luật của Mỹ, nhà tài trợ và công ty được uỷ thác không thể là một. Nhà tài trợ lựa chọn và lên danh sách các loại chứng khoán cho quỹ. Công ty được uỷ thác quản lý các chứng khoán này, lưu giữ các thông tin về người nắm giữ đơn vị và thực hiện tất cả các công việc về kế toán và báo cáo thuế đối với danh mục đầu tư. Một số các nhà tài trợ thành lập ra công ty uỷ thác lớn nhất là First Trust Portfolios và các nhà tài trợ khác nhỏ hơn như Van Kampen và Claymore Securities). Các công ty môi giới lớn nhất như Merrill Lynch và A.G.Edwards bán các chứng khoán uỷ thác đó.
2. Đặc điểm của quỹ ủy thác chung
Các đặc điểm chi tiết của quỹ ủy thác chung là:
- Quỹ ủy thác chung là quỹ đầu tư tập thể được quản lý bởi bộ phận ủy thác của ngân hàng. Quỹ ủy thác chung có thời hạn hoạt động xác định và danh mục đầu tư cố định. Quỹ ủy thác chung phát hành cổ phiếu để huy động vốn từ các nhà đầu tư. Quỹ ủy thác chung sẽ chia cổ tức cho các nhà đầu tư theo số vốn góp ban đầu khi kết thúc thời hạn hoạt động hoặc khi có yêu cầu của nhà đầu tư.
- Quỹ ủy thác chung có tính đa dạng hóa, kỷ luật, tái cân bằng cơ hội và thanh khoản. Quỹ ủy thác chung có thể nắm giữ các loại cổ phiếu, trái phiếu khác nhau để giảm thiểu rủi ro và tăng lợi nhuận cho nhà đầu tư. Quỹ ủy thác chung không được phép vay tiền để đầu tư. Quỹ ủy thác chung không được quản lý tích cực nên hầu hết chứng khoán trong danh mục đầu tư vẫn giữ cố định trong suốt thời gian đầu tư
- Nhà đầu tư phải trả thuế cho khoản phân phối mà họ nhận được từ thu nhập của quỹ ủy thác chung. Tuy nhiên, họ không phải trả thuế cho các khoản phân phối từ tiền gốc của quỹ ủy thác chung. Quỹ ủy thác chung sẽ cấp cho nhà đầu tư một biểu mẫu thuế có tên là K-1. K-1 cho biết số tiền phân phối của nhà đầu tư là thu nhập lãi so với tiền gốc và do đó, người thụ hưởng phải khai báo nhiêu là thu nhập chịu thuế khi nộp thuế.
- Thuế của quỹ ủy thác chung cũng phụ thuộc vào việc quỹ ủy thác chung có thể hủy ngang hay không hủy ngang. Có nhiều quy tắc thuế khác nhau đối với những người thụ hưởng thu nhập từ quỹ ủy thác chung tùy thuộc vào loại quỹ ủy thác chung và loại thu nhập mà quỹ ủy thác chung nhận được.
Để phân tích các ý chi tiết sau, chúng ta có thể sử dụng phương pháp PESTEL (Political, Economic, Social, Technological, Environmental, Legal) để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến quỹ ủy thác chung. Một ví dụ về phân tích PESTEL như sau:
- Political: Quỹ ủy thác chung được quản lý bởi bộ phận ủy thác của ngân hàng, do đó phải tuân theo các quy định của Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lý khác. Các chính sách về thuế, lãi suất, kiểm soát vốn ngoại tệ, an ninh quốc gia… có thể ảnh hưởng đến hoạt động của quỹ.
- Economic: Quỹ ủy thác chung phát hành cổ phiếu để huy động vốn từ các nhà đầu tư, do đó phụ thuộc vào nhu cầu và cung cấp của thị trường. Các yếu tố kinh tế như tăng trưởng GDP, lạm phát, tỷ giá hối đoái, dòng vốn nước ngoài… có thể ảnh hưởng đến giá trị và lợi nhuận của quỹ.
- Social: Quỹ ủy thác chung có tính đa dạng hóa, kỷ luật, tái cân bằng cơ hội và thanh khoản, do đó phù hợp với những nhà đầu tư có mục tiêu đầu tư dài hạn và muốn giảm thiểu rủi ro. Tuy nhiên, quỹ ủy thác chung cũng có những nhược điểm như không được quản lý tích cực, không linh hoạt trong việc điều chỉnh danh mục đầu tư theo biến động của thị trường… do đó có thể không thu hút được những nhà đầu tư thích mạo hiểm và theo dõi thị trường sát sao.
- Technological: Quỹ ủy thác chung có thể sử dụng các công nghệ mới để nâng cao hiệu quả quản lý và giao dịch của quỹ. Ví dụ như sử dụng các phần mềm quản lý danh mục đầu tư, các nền tảng giao dịch trực tuyến, các công cụ phân tích và dự báo chứng khoán… Các công nghệ mới cũng có thể giúp quỹ tiếp cận được nhiều khách hàng tiềm năng hơn và tăng sự minh bạch và tin cậy của quỹ.
- Environmental: Quỹ ủy thác chung có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường như thiên tai, biến đổi khí hậu, ô nhiễm… Các yếu tố này có thể gây ra thiệt hại cho các công ty trong danh mục đầu tư của quỹ hoặc làm giảm nhu cầu của khách hàng đối với các sản phẩm và dịch vụ của các công ty này. Do đó, quỹ ủy thác chung cần có những biện pháp phòng ngừa và ứng phó với các rủi ro môi trường.
- Legal: Quỹ ủy thác chung phải tuân theo các luật pháp liên quan đến hoạt động đầu tư của quỹ. Ví dụ như luật chứng khoán, luật thuế, luật bảo vệ người tiêu dùng… Các luật pháp này có thể thay đổi theo thời gian và có ảnh hưởng đến chi phí và lợi ích của quỹ. Do đó, quỹ ủy thác chung cần theo dõi và cập nhật liên tục các luật pháp mới để tuân thủ và tận dụng được các cơ hội từ chúng.
Cách hoạt động của quỹ ủy thác chung như sau:
- Quỹ ủy thác chung là quỹ được hình thành bằng cách huy động vốn từ các nhà đầu tư và sau đó đem đi đầu tư vào các kênh tài chính có lợi nhuận cao, rủi ro thấp. Quỹ ủy thác chung có thời hạn hoạt động xác định và danh mục đầu tư cố định. Các kênh đầu tư và danh mục đầu tư được xác định trước ngay từ khi thành lập quỹ.
- Quỹ ủy thác chung phát hành cổ phiếu để huy động vốn từ các nhà đầu tư. Cổ phiếu của quỹ ủy thác chung có thể được giao dịch trên sàn chứng khoán khi thị trường mở. Khi thị trường đóng, nhà đầu tư chỉ có thể giao dịch với quỹ ủy thác chung khi muốn mua, bán hoặc trao đổi cổ phiếu.
- Quỹ ủy thác chung sẽ chia cổ tức cho các nhà đầu tư theo số vốn góp ban đầu khi kết thúc thời hạn hoạt động hoặc khi có yêu cầu của nhà đầu tư. Nhà đầu tư cũng có thể tái cân bằng cơ hội bằng cách tái đầu tư vào danh mục mới.
3. Ảnh hưởng quỹ ủy thác chung đến các nhà đầu tư
3.1 Lợi ích đối với nhà đầu tư
Quỹ ủy thác chung có một số lợi ích cho nhà đầu tư như:
- Tính đa dạng hóa: Quỹ ủy thác chung cho phép nhà đầu tư tham gia vào nhiều loại chứng khoán khác nhau, giảm thiểu rủi ro và tăng cơ hội sinh lời.
- Tính kỷ luật: Quỹ ủy thác chung không được quản lý tích cực, nên danh mục đầu tư thường giữ cố định trong suốt thời gian đầu tư. Điều này giúp nhà đầu tư tránh được những cảm xúc thị trường và các chi phí giao dịch không cần thiết.
- Tái cân bằng cơ hội: Khi một danh mục đầu tư kết thúc, nhà đầu tư có quyền dùng số tiền thu được để tái đầu tư vào danh mục mới. Điều này giúp nhà đầu tư duy trì kế hoạch đầu tư dài hạn và tận dụng các cơ hội mới trên thị trường.
- Tính thanh khoản: Quỹ ủy thác chung có tính thanh khoản cao, vì nhà đầu tư có thể quy đổi quỹ hàng ngày với giá trị tài sản ròng. Nhà đầu tư có thể thoái vốn khi cần thiết mà không bị mất nhiều giá trị.
3.2 Rủi ro đối với nhà đầu tư
Quỹ ủy thác chung cũng có một số rủi ro cho nhà đầu tư như:
- Rủi ro pháp lý: Quỹ ủy thác chung phải tuân theo các quy định của pháp luật về đầu tư chứng khoán và các văn bản hướng dẫn. Nếu có sự thay đổi trong luật pháp hoặc có xảy ra tranh chấp giữa các bên liên quan, quỹ ủy thác chung có thể gặp khó khăn trong việc hoạt động và bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư.
- Rủi ro thanh khoản: Quỹ ủy thác chung có thời hạn hoạt động xác định và danh mục đầu tư cố định. Do đó, nhà đầu tư không thể thoái vốn trước thời hạn hoặc điều chỉnh danh mục theo biến động của thị trường. Nếu nhà đầu tư muốn rút tiền trước hạn, họ có thể phải bán quỹ với giá thấp hơn giá trị tài sản ròng.
- Rủi ro hiệu suất: Quỹ ủy thác chung không được quản lý tích cực, nên hiệu suất của quỹ phụ thuộc vào sự lựa chọn ban đầu của nhà tài trợ. Nếu nhà tài trợ không có năng lực, uy tín hoặc kinh nghiệm, quỹ ủy thác chung có thể không mang lại lợi nhuận mong muốn cho nhà đầu tư.
Các bạn có thể tham khảo bài viết liên quan sau: ESG là gì? Đầu tư ESG là gì? Xu hướng đầu tư vào các mã cổ phiếu xanh ESG?
4. Một số thuật ngữ liên quan đến ủy thác thường được sử dụng
4.1 Ủy thác CRUMMEY (CRUMMEY TRUST) là gì?
Ủy thác CRUMMEY là ủy thác cho phép quà tặng miễn thuế cho trẻ vị thành niên, và giới hạn rút tiền gốc và lãi bởi người hưởng lợi trong một thời kỳ nhất định, Ví dụ 30 ngày một năm, trong khi ủy thác có hiệu lực. ủy thác Crummey không giống như ủy thác của trẻ vị thành niên, không đòi hỏi phân phối tài sản ủy thác vào năm 21 tuổi.
4.2 Ủy thác hao hụt (WASTING TRUST) là gì?
Ủy thác hao hụt (WASTING TRUST) là tài khoản tín thác cho phép người nhận tín thác sử dụng phần vốn gốc tín thác để thanh toán cho người thụ hưởng nếu thu nhập tiền lãi không đủ. Thuật ngữ này cũng áp dụng cho các đơn vị tín thác đầu tư phần lớn trong tài sản có đặc tính hao hụt, như dự trữ dầu và khí.
4.3 Ủy thác totten (TOTTEN TRUST) là gì?
Ủy thác totten (TOTTEN TRUST) là ủy thác không chính thức trong đó tài sản được ký gửi trong một tài khoản được kiểm soát bởi người tạo ra ủy thác đó, người nhượng, và giữ trong tín thác cho người khác, gọi là người thụ hưởng. Khi chủ tài khoản chết thì tài khoản được chuyển cho người thụ hưởng, nhưng bị đánh thuế như một phần của di sản người nhượng. Nếu tài khoản là đồng sở hữu, sẽ áp dụng những quy định cho những tài khoản chung. Khi tất cả người chủ sở hữu tài khoản chết, người thụ hưởng trở thành chủ sở hữu hợp pháp.
Trên đây là tư vấn của luật Minh Khuê về vấn đề "Quỹ ủy thác chung (COMMON TRUST FUND) " Mong rằng bài viết trên của chúng tôi sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn. Bạn đọc nếu có bất kỳ thắc mắc nào vui lòng liên hệ tổng đài 1900.6162 của chúng tôi để được tư vấn trực tiếp, giải đáp thắc mắc một cách nhanh chóng và kịp thời. Quý khách hàng có yêu cầu báo giá dịch vụ tư vấn vui lòng gửi yêu cầu về địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Cảm ơn bạn đọc đã quan tâm theo dõi nội dung tư vấn của chúng tôi. Xin trân trọng cảm ơn quý khách.