1. Quyền bình đẳng trong quan hệ hôn nhân, gia đình
Điều 16 CEDAW đề cập việc xoá bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trên lĩnh vực riêng tư mà có ý nghĩa rất quan trọng đến cuộc sống của con người nói chung và của phụ nữ nói riêng, đó là hôn nhân, gia đình. Điều này xuất phát từ thực tế là trong hầu hết các xã hội, phụ nữ thường phải chịu đựng sự đối xử bất bình đẳng ngay trong gia đình, thể hiện ở các hình thức như hôn nhân cưỡng bức (hay sắp đặt), quyền quyết định về con cái, quản lý tài sản, quyền được nghỉ ngơi... Sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ trên lĩnh vực này thường bắt nguồn từ các tập tục truyền thống - khía cạnh có sức ỳ lớn nhất. Bù lại, sự thay đổi trên lĩnh vực này được coi là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định để phụ nữ đạt được sự bình đẳng một cách đầy đủ với đàn ông. Các khía cạnh chủ yếu được đề cập trong Điều 16 bao gồm: (i) Bình đẳng về kết hôn, thể hiện ở việc phụ nữ được tự do quyết định việc kết hôn và lựa chọn người phối ngẫu. Vấn đề này liên quan đến trách nhiệm của các nhà nước trong việc quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu, việc đăng ký kết hôn, chế độ hôn nhân tự nguyện, cấm chế độ đa thê cũng như việc tảo hôn cho trẻ em; (ii) Bình đẳng trong hôn nhân và khi hôn nhân kết thúc, thể hiện ở việc phụ nữ được bình đẳng với chồng cả trong thời gian hôn nhân và khi đã ly hôn. Điều này liên quan đến một loạt vấn đề từ quản lý tài sản chung trong gia đình; quyền và trách nhiệm với con cái; việc xác định số con, khoảng cách giữa các lần sinh; việc cho, nhận con nuôi; những tự do cá nhân như việc lựa chọn họ tên, quyết định lựa chọn nghề nghiệp, việc làm của bản thân mà không bị phụ thuộc bởi người chồng.
2. Chế độ hôn nhân đa thê là trái với quyền bình đẳng nam nữ
Liên quan đến Điều 16, trong Khuyến nghị chung số 21, Uỷ ban CEDAW nêu rằng, khái niệm gia đình có thể hiểu khác nhau giữa các quốc gia, tuy nhiên, dù được hiểu như thế nào thì trong mô hình gia đình đó, việc đối xử với phụ nữ cũng phải tuân thủ các quy định của Điều 16 (đoạn 13). Ủy ban cũng cho rằng, chế độ hôn nhân đa thê là trái với quyền bình đẳng nam nữ và có thể gây ra những nguy cơ nghiêm trọng cho phụ nữ và con cái họ, vì vậy, Ủy ban khuyến nghị các quốc gia thành viên cấm chế độ đa thê (đoạn 14). Ủy ban cũng khuyến nghị các quốc gia cấm các hành động cưỡng ép hoặc sắp đặt hôn nhân để bảo đảm quyền được lựa chọn người phối ngẫu (đoạn 15). Thêm vào đó, Uỷ ban cho rằng các quy định pháp luật và tập tục ưu đãi cho nam giới trong việc hưởng thừa kế tài sản là sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; đồng thời, yêu cầu các quốc gia thành viên phải thừa nhận và bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong vấn đề này. Liên quan đến Điều 16, trong Khuyến nghị chung số 19, Uỷ ban CEDAW nêu rằng, hành động triệt sản nữ và bắt buộc phá thai cấu thành sự vi phạm quyền của phụ nữ trong việc quyết định số con và khoảng cách giữa các lần sinh. Uỷ ban cũng yêu cầu các quốc gia thành viên tăng cường các biện pháp, kể cả dân sự và hình sự, để chống lại nạn bạo hành phụ nữ trong gia đình, bao gồm việc thiết lập các trung tâm phục hồi và các nhà tạm lánh cho những phụ nữ là nạn nhân của tệ nạn này.
3. Bảo vệ phụ nữ khỏi những hình thức bạo lực ở trong gia đình, ngoài xã hội và ở nơi làm việc
Điểm hạn chế của Điều 16 (và của toàn bộ Công ước) là đã không đề cập một cách đúng mức tới vấn đề bạo lực trên cơ sở giới tính, một trong bốn hình thức cơ bản về bất bình đẳng giới. Tuy nhiên, hạn chế này đã phần nào được khắc phục với việc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn về xoá bỏ mọi hình thức bạo lực chống lại phụ nữ vào năm 1993. Thêm vào đó, trong Khuyến nghị chung số 12 được thông qua tại phiên họp lần thứ 8 năm 1989, khuyến nghị các quốc gia thành viên thực thi và báo cáo về các biện pháp mà quốc gia đã tiến hành để bảo vệ phụ nữ khỏi những hình thức bạo lực ở trong gia đình, ngoài xã hội và ở nơi làm việc. Còn trong Khuyến nghị chung số 19, Ủy ban xác định bạo lực trên cơ sở giới tính cấu thành một trong các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, và khái niệm “bạo lực trên cơ sở giới tính” được hiểu là những hành vi “..nhằm gây áp lực hoặc điều khiển một người phụ nữ một cách không chính đáng, bao gồm những hành động hành hạ về thể chất, tinh thần, gây tổn thương hay đau đớn về tình dục, đe doạ gây ra những hành động như vậy hay sự cưỡng chế và tước đoạt những quyền tự do khác của phụ nữ...” ( đoạn 6). Ủy ban cũng cho rằng, bạo lực trên cơ sở giới tính xâm phạm hoặc tước đoạt của phụ nữ rất nhiều quyền và tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền sống; quyền không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo; quyền tự do và an ninh cá nhân; quyền bình đẳng trước pháp luật; quyền bình đẳng trong gia đình; quyền được hưởng tình trạng tốt nhất về sức khỏe...( đoạn 7). Ở hầu hết quốc gia trên thế giới, việc thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới gặp nhiều trở ngại xuất phát từ tính chất phức tạp của vấn đề cũng như từ quan niệm trong văn hóa truyền thống coi đó là những vấn đề nội bộ của các gia đình. Tuy nhiên, cần thấy rằng bạo lực trên cơ sở giới không chỉ là vấn đề riêng của các gia đình, mà còn là vấn đề chung của toàn xã hội, bởi lẽ như Ủy ban CEDAW đã nêu trong Khuyến nghị chung số 19, bạo lực trên cơ sở giới cản trở sự hưởng thụ một số quyền con người của nạn nhân.
4. Quyền bình đẳng của phụ nữ nông thôn
Phụ nữ nông thôn là một trong những bộ phận dễ bị tổn thương nhất trong tổng thể nhóm người dễ bị tổn thương là phụ nữ. Bộ phận phụ nữ này có những nhu cầu đặc biệt cần được đáp ứng, xuất phát từ những yếu tố: Thứ nhất, họ không phải là những lao động làm công ăn lương nên nguồn sống không được bảo đảm ổn định và độc lập như các nhóm phụ nữ khác; Thứ hai, do tính chất công việc và môi trường sống ở nông thôn, họ thường chịu gánh nặng đa vai trò về giới và phải chịu đựng nhiều tập tục truyền thống mang tính phân biệt đối xử về giới hơn so với phụ nữ ở thành thị; Thứ ba, phần lớn công việc phụ nữ nông thôn thường làm là những công việc “vô hình”, không tính thành tiền nên sự đóng góp của họ ít được ghi nhận. Xuất phát từ thực tế kể trên, Điều 14 CEDAW xác nhận tầm quan trọng và những đóng góp của phụ nữ nông thôn với kinh tế của quốc gia và sự phồn vinh của gia đình; đồng thời yêu cầu các quốc gia thành viên phải quan tâm đặc biệt đến việc bảo đảm cho phụ nữ nông thôn các quyền bình đẳng trong các vấn đề: (i) Tham gia xây dựng và thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội ở các cấp; (ii) Chăm sóc sức khoẻ, kể cả thông tin, tư vấn, dịch vụ kế hoạch hoá gia đình; (iii) Hưởng lợi chính quy và không chính quy, kể cả đào tạo kỹ thuật, nghiệp vụ; (v) Tham gia các hoạt động của cộng đồng; (vi) Tiếp cận các hình thức tín dụng về nông nghiệp, các điều kiện thuận lợi về thị trường, kỹ thuật; (vii) Được đối xử bình đẳng trong quá trình phân chia ruộng đất hoặc khi quy hoạch nông thôn; (viii) Được hưởng các điều kiện sống phù hợp, đặc biệt về nhà ở, điều kiện vệ sinh, điện, nước, giao thông, thông tin. Liên quan đến Điều 14, trong Khuyến nghị chung số 16 thông qua tại phiên họp lần thứ 10 năm 1990, Ủy ban CEDAW đặc biệt khuyến nghị các quốc gia thành viên thu thập số liệu thống kê và báo cáo với Ủy ban về thực trạng pháp lý và xã hội của những phụ nữ làm việc trong các doanh nghiệp gia đình (phần lớn ở vùng nông thôn) mà thường không được trả công, được hưởng bảo hiểm hoặc phúc lợi xã hội cũng như thực hiện các biện pháp để cải thiện tình hình đó. Trong Khuyến nghị chung số 17, Ủy ban cũng yêu cầu các quốc gia thành viên điều tra và báo cáo về những công việc gia đình không tính thành tiền công mà phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở vùng nông thôn, đang phải làm. Trong Khuyến nghị số 11, Ủy ban đặc biệt lưu ý các quốc gia thành viên về tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ nông thôn, xuất phát từ thực tế là những phong tục tập quán lạc hậu thường tồn tại phổ biến và có ảnh hưởng nặng nề hơn ở vùng nông thôn...
5. Bình đẳng giới trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phụ nữ có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội và sự nghiệp cách mạng. Trong phát triển xã hội, phụ nữ là lực lượng quan trọng trên tất cả các lĩnh vực quân sự, kinh tế, văn hóa… Bất cứ lĩnh vực nào cũng có bàn tay, khối óc của phụ nữ. Bình đẳng nam nữ trên lĩnh vực pháp lý: Hồ Chí Minh khẳng định nam nữ có quyền bình đẳng và đưa vào nội dung các sắc lệnh, nguyên tắc bầu cử, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Ngay trong Chánh cương vắn tắt (1930), Hồ Chí Minh đã đặt ra vấn đề “nam nữ bình quyền”. Khi Quốc hội khóa I thông qua bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Bản Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: Dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới, phụ nữ Việt Nam đã đứng ngang hàng với đàn ông để hưởng mọi quyền công dân”.Tại Điều 9 đã đề cập đến quyền bình đẳng nam nữ: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông trên mọi phương diện”. Năm 1959, khi Luật Hôn nhân và gia đình lần đầu tiên được Quốc hội thông qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Luật Hôn nhân và gia đình có quan hệ mật thiết đến mọi người dân trong nước, đến cả nòi giống Việt Nam ta. Đạo luật ấy làm cho gái trai thật sự bình đẳng, gia đình thật sự hạnh phúc”. Trong Di chúc, Người cũng trăn trở về vai trò và vị trí của người phụ nữ: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng có thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên. Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ”. Bình đẳng trong lĩnh vực kinh tế. Theo Hồ Chí Minh bình đẳng nam nữ trong lĩnh vực kinh tế nghĩa là phụ nữ có cơ hội việc làm, có thu nhập bình đẳng như nam giới trong những công việc giống nhau, phụ nữ bình đẳng với nam giới trong quan hệ tài sản…Và chính Người đã trực tiếp chỉ đạo để thực hiện quyền bình đẳng nam nữ về kinh tế trong đời sống xã hội. Bình đẳng trong lĩnh vực văn hóa - xã hội. Hồ Chí Minh coi văn hóa là một mặt trận, ngang hàng với các lĩnh vực kinh tế, chính trị và chú trọng nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân, nâng cao dân trí đặc biệt là nâng cao trình độ dân trí, trình độ văn hóa cho phụ nữ, đối tượng từ lâu đã bị xã hội phong kiến và thực dân kìm kẹp trong dốt nát và lạc hậu. Trong lĩnh vực xã hội, Hồ Chí Minh luôn hướng tới việc nâng cao địa vị cho phụ nữ, chú ý quan tâm tới những nét đặc thù riêng của phụ nữ, từ đó đề ra những chính sách ưu đãi để phụ nữ có điều kiện tham gia hoạt động xã hội bình đẳng như nam giới. Đồng thời, Người còn ra sức tuyên truyền giác ngộ để mọi người nhận thức rõ hơn vai trò của phụ nữ trong xã hội, từ đó cùng nhau giúp đỡ để phụ nữ vươn lên khẳng định địa vị của mình, tạo cơ sở cho việc thực hiện bình đẳng nam nữ trong xã hội. Bình đẳng trong gia đình. Để tiến tới bình đẳng nam nữ một cách thực sự, theo Hồ Chí Minh cần phải thực hiện bình đẳng nam nữ từ gia đình, hạt nhân của xã hội, phải giải phóng phụ nữ thoát khỏi sự bất công trước hết từ chính gia đình của họ. Bình đẳng nam nữ trong gia đình chính là cơ sở cho bình đẳng nam nữ ngoài xã hội, bởi khi được quan tâm, chia sẻ công việc và được tạo điều kiện thuận lợi, người phụ nữ sẽ có điều kiện tham gia những hoạt động xã hội, công tác xã hội để phát huy hết tài năng trí tuệ của mình, như vậy mới thật là bình đẳn. Những quy định, nội dung này đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng về vai trò và địa vị pháp lý của phụ nữ Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử, phụ nữ Việt Nam được pháp luật thừa nhận và bảo đảm có những quyền bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnh vực. Điều này đã thể hiện sự tiến bộ của luật pháp Việt Nam. Đồng thời thể hiện tính nhân văn sâu sắc, tầm nhìn vượt thời đại, tư duy chính trị sắc sảo của lãnh tụ Hồ Chí Minh.