Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900 6162

Cơ sở pháp lý: 

- Hiến pháp năm 2013

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

1. Quyền bình đẳng trước pháp luật

Quyền bình đẳng trước pháp luật là một quyền con người. Đó là quyền được xác lập tư cách con người trước pháp luật; không bị pháp luật phân biệt đối xử, quyền có vị thế ngang nhau trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau.

Trước hết, quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện là nhu cầu của một chủ thể tự nhiên với tư cách là một con người buộc phải có và cần phải có.

Thứ hai, quyền bình đẳng trước pháp luật là một giá trị của xã hội loài người.

Thứ ba, người ta thực hiện quyền bình đẳng đó bằng công cụ pháp luật thông qua việc thể chế hóa và tạo ra cơ chế bảo vệ khi nó bị xâm phạm.

Nói cách khác, quyền bình đẳng trước pháp luật là sự bao quát gần như toàn bộ các quyền bình đẳng trong mọi lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội dưới vùng "phủ sóng” của pháp luật. Điều này được quyết định bởi thuộc tính, vai trò của pháp luật trong xã hội với tư cách là các quy phạm do nhà nước ban hành, thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Một trong những nguyên tắc quan trọng trong điều chỉnh pháp luật là bình đẳng. Cách tiếp cận này phù hợp với các Điều 6, 7 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền (UDHR) quy định về quyền bình đẳng và quyền bình đẳng trước pháp luật mà Công ước về quyền dân sự, chính trị năm 1966 đã cụ thể hóa.

2. Bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án là bảo đảm quyền con người

Bình đẳng trước pháp luật được thể hiện rất rõ qua việc bình đẳng trước Tòa án. Đây là một giá trị phổ biến được thừa nhận chung trên toàn thế giới. Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 ghi nhận: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, không có bất kỳ sự phân biệt nào” (Điều 7). Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 cũng quy định tương tự về nội dung này tại Điều 14.

2.1. Pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền bình đẳng trước toa án

Hiến pháp Việt Nam năm 2013 tại Điều 16 ghi nhận nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cụ thể hóa nguyên tắc này trong tố tụng hình sự với quy định vê' bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật: “Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phẩn và địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đểu bị xử lý theo pháp luật. Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế”.

Bình đẳng trước pháp luật, trước Tòa án vừa có ý nghĩa trong việc bảo đảm quyền cơ bản của con người, đổng thời giúp cho việc giải quyết vụ án khách quan, đúng người, đúng tội. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm thực thi quyền đó trong thực tế. Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, có chức năng xét xử các vụ án hình sự. Để bảo vệ công lý, Tòa án phải xét xử khách quan, công minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật để bảo đảm mọi vi phạm pháp luật đều được xử lý, đồng thời không làm oan người vô tội. Khi tham gia tố tụng hình sự, mọi người đều có quyền và nghĩa vụ như nhau. Bình đẳng thể hiện bằng việc các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tổ tụng giải quyết vụ án theo trình tự, thủ tục đã được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, áp dụng thống nhất trên toàn quốc, thống nhất đối với tất cả những người tham gia tố tụng đối với mọi vụ án hình sự mà không có ngoại lệ. Đối với các thủ tục đặc biệt, thủ tục rút gọn chỉ áp dụng với đối tượng và trong phạm vi luật định, bất kỳ ai, bất kỳ vụ án nào có đủ điều kiện luật định trong trường hợp đặc biệt thì mới áp dụng thủ tục đặc biệt.

2.2. Biểu hiện bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án trong tố tụng hình sự

Bảo đảm quyền bình đẳng của những người tham gia tổ tụng trước Tòa án là nguyên tắc chi phối các hoạt động tố tụng trong giai đoạn xét xử với tư cách là trọng tâm của hoạt động tư pháp, thể hiện ở những điểm sau:

- Bất cứ người phạm tội là ai đều phải chịu trách nhiệm hình sự nếu phạm tội. Không ai có đặc quyền trước Tòa án theo lối “quan xử theo lễ, dân xử theo hình”.

- Mọi người có quyền và nghĩa vụ như nhau khi tham gia tố tụng hình sự.

- Pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự nếu vi phạm pháp luật hình sự, không kể đó là pháp nhân thuộc thành phần kinh tế nào.

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án tại Điều 19 Bộ luật Tố tụng hình sự cũ năm 2003 được lồng ghép vào nguyên tắc “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) và được thể hiện trong các nhóm quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tố tụng, nhóm quy định về các thủ tục tố tụng và nhóm quy định về hoạt động chứng minh.

Bình đẳng trước pháp luật bảo đảm cho những người tham gia tố tụng có quyền như nhau. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền được thông tin và quyển được giải thích về quyền và nghĩa vụ của họ, quyền được trình bày đối với những cáo buộc, quyền bào chữa; được quan tiến hành tố tụng hình sự cung cấp các quyết định liên quan đến việc buộc tội... Người bị hại và những người khác có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án cũng được pháp luật bảo đảm các quyền như quyền yêu cầu giám định, quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ cho mình. Hay người làm chứng có quyền yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự bảo vệ cho mình hoặc người thân thích của minh khỏi sự đe dọa của tội phạm. Bình đẳng trong hoạt động chứng minh là những bảo đảm rất quan trọng cho quyển của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác (nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự) được đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; trình bày ý kiến của mình về tài liệu, chứng cứ, đồ vật liên quan và yêu cầu người tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá... Ngoài ra, quy định về bố trí phòng xử án, về các thủ tục tại phiên tòa, tranh tụng tại phiên tòa cũng thể hiện rõ sự bình đẳng trong tố tụng hình sự. Đặc biệt, quy định vể tranh tụng giữa Kiểm sát viên, người bào chữa và bị cáo thể hiện rõ nhất sự bình đẳng trước Tòa án.

3. Bảo đảm quyền kháng cáo và xét xử ở hai cấp Tòa án

3.1. Pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền kháng cáo trong tố tụng hình sự

Việc áp dụng nguyên tắc xét xử hai cấp là đặc trưng của Tòa án ở chỗ, giữa các cấp Tòa án là quan hệ pháp luật tố tụng, không phải quan hệ hành chính; Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Để có thể đạt được công lý, việc xét xử cần độc lập, không áp đặt kiểu như mệnh lệnh hành chính. Nếu ở cầp thứ nhất (sơ thẩm) giải quyết vụ án hình sự mà cá nhân, tổ chức không đồng tình thì có quyền kháng cáo, kháng nghị và cấp thứ hai (phúc thẩm) bất luận trong trường hợp nào cũng phải mở phiên tòa xét xử với Hội đổng xét xử hoàn toàn khác, mặc dù cả hai cấp đều xét xử vụ án về nội dung. Đây là nguyên tắc tiến bộ, nhân văn, lẩn đầu tiên được đề xướng và áp dụng trong tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án sau cách mạng tư sản cuối thế kỷ XVIII.

Hiện nay, trong pháp luật quốc tế cũng như các quốc gia đều thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử. Công ước quốc tế về các quyền dần sự và chính trị năm 1966 ghi nhận nguyên tắc hai cấp xét xử tại Điều 14: “Bất cứ người nào bị kết án là phạm tội đều có quyền yêu cầu Toà án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp luật”.

Ở nhiều quốc gia, nguyên tắc này được ghi nhận trong Hiến pháp và luật tố tụng hình sự. Điều 167 Hiến pháp Cộng hòa Ba Lan năm 1997 quy định: Các vụ việc tại Tòa án phải qua ít nhất hai cấp xét xử (Điều 176). Điều 168 Hiến pháp Cộng hòa Nam Phi năm 1996 quy định: Tòa phúc thẩm tối cao là Tòa phúc thẩm cao nhất, có thể quyết định phúc thẩm về bất kỳ vấn đề gì. Điều 50 Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 quy định: Người bị kết án có quyền được xem xét lại bản án bởi Tòa án cấp cao hơn theo trình tự do pháp luật Liên bang quy định

Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2006) quy định: Các quyết định của Toà án chưa có hiệu lực pháp luật có thể bị các bên kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục chống án hoặc thủ tục phúc thẩm. Kháng cáo, kháng nghị đối với các quyết định của Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp chống án chưa có hiệu lực pháp luật được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Người bị kết án, người được Toà án tuyên vô tội, người bào chữa và người đại diện hợp pháp của họ, Công tố viên hoặc Viện kiểm sát cấp trên người bị hại và người đại diện của họ có quyền kháng cáo, kháng nghị quyết định của Toà án. Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự hoặc những người đại diện của họ có quyền kháng cáo về phần dân sự (Điều 354). Bộ luật Tố tụng hình sự của Cộng hòa nhân dần Trung Hoa năm 1996 quy định: Khi xét xử các vụ án, Tòa án phải áp dụng hệ thống phúc thẩm là chung thẩm (Điều 10). Bộ luật Tố tụng hình sự của Cộng hòa Pháp (bổ sung bởi Luật số 2000-516 ngày 15-6-2000) ghi nhận: Bất kỳ ai bị kết án có quyển được Toà án cấp thứ hai thẩm tra việc kết án (Điều 1-P).

3.2. Pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền kháng cáo trong tố tụng hình sự

Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 quy định nguyên tắc chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm. Điều 6 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 cụ thể hóa nguyên tắc này với nội dung: Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do luật định thì có hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Như vậy, xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Kháng cáo là quyền của người có lợi ích liên quan hoặc người được ủy quyền biểu thị sự không đồng ý đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm (chưa có hiệu lực pháp luật) để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trong tố tụng hình sự, những người có quyền kháng cáo gồm: Bị cáo, bị hại, người đại diện của họ có quyển kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm; người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà mình bào chữa; nguyên đơn dân sự, bị đơn dần sự, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm vê' tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ; người được Tòa án tuyên không có tội có quyền kháng cáo về các căn cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định là họ không có tội.

Pháp luật cũng quy định Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Những phần của bản án, quyết định của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp đình chỉ vụ án, tuyên bị cáo không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là hình phạt tù hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam (Điều 363 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Khi có kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ bản án, quyết định thì toàn bộ bản án, quyết định chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về thẩm quyền xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyển xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị; Tòa án nhân dần cấp cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng cáo, kháng nghị; Tòa án quân sự cẫp quân khu có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự khu vực bị kháng cáo, kháng nghị; Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự cấp quân khu bị kháng cáo, kháng nghị. Thủ tục bắt đầu phiên tòa và thủ tụng tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như phiên tòa sơ thẩm. Khi tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên, người khác hên quan đến kháng cáo, kháng nghị phát biểu ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị; Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

Về phạm vi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết, có thể xem xét các phần khác của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị.

Về quyền hạn, Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền:

1) Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm;

2) Sửa bản án sơ thẩm;

3) Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại;

4) Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án;

5) Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm. Bản án phúc thẩm là chung thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trên đây là chia sẻ của chúng tôi về nội dung "Bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án trong tố tụng hinhf sự". Nếu bạn đọc có vướng mắc pháp lý vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập