Luật sư tư vấn:
Cảm ơn Bạn, vấn đề mà Bạn quan tâm, đặt câu hỏi - Luật Minh Khuê xin được trao đổi như sau:
1. Căn cứ pháp lý để chấm dứt cho vay, thu hồi vốn trước hạn
Tổ chức tín dụng khi cho vay đều mong muôn bên vay sử dụng vốn vay theo đúng kế hoạch được ghi trong hợp đồng, mang lại hiệu quả kinh tế khi sử dụng vốn vay, thực thi nghĩa vụ hoàn trả nợ. Việc chấm dứt cho vay thu hồi vốn trước hạn sẽ đẩy người vay đối mặt với nhiều khó khăn, rủi ro... Biện pháp chế tài này áp dụng chỉ khi tổ chức tín dụng đánh giá khoản vay có nguy cơ mất an toàn cao hơn dự định ban đầu khi xét duyệt cho vay nếu phải tiếp tục thực hiện hợp đồng.
Trong lĩnh vực thương mại, theo Điều 310 Luật Thương mại năm 2005, việc đình chỉ thực hiện hợp đồng chỉ khi xảy ra hành vi vi phạm được các bên thỏa thuận hoặc khi một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng, gây thiệt hại đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của hợp đồng.
Trong lĩnh vực ngân hàng, biện pháp này được áp dụng khi khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng (khoản 1 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010). Những điều kiện chấm dứt cho vay như viện dẫn này có thể đến từ nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. Thông thường đó là các căn cứ làm thay đổi tình trạng ban đầu được tổ chức tín dụng dự liệu, có nguy cơ ảnh hưởng tiêu cực đến hợp đồng vay, bất lợi về phía các tổ chức tín dụng.
Thật vậy, điều luật khẳng định thời điểm “trước hạn” (nghĩa là, trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán) như một căn cứ xác định hành vi chấm dứt thực hiện hợp đồng cho vay, không phụ thuộc vào thời hạn của hợp đồng, mà có thể xảy ra bất cứ lúc nào của quá trình hợp đồng đó. Quy định này khác với hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ đến hạn, đương nhiên sẽ bị chế tài bằng lãi phạt quá hạn, và chỉ áp dụng khi đến thời hạn thanh toán.
Trên thực tiễn, các tổ chức tín dụng thường ghi vào hợp đồng cho vay nhiều điều kiện chấm dứt cho vay như một sự ràng buộc chắc chắn hơn trách nhiệm của người vay, kể cả đó là những lý do khách quan (ví dụ: người đại diện theo pháp luật, người điều hành của bên vay bị khỗi tố; bên vay là doanh nghiệp bị giải thể, ngừng hoạt động;...). Với quy định (trong điều khoản hợp đồng cho vay được viện dẫn) về chấm dứt cho vay, kể cả trong trường hợp phát sinh những sự kiện pháp lý xảy ra nằm ngoài ý thức chủ quan của bên vay, bên cho vay vẫn được phép chấm dứt cho vay. Tuy đây là những lý do khách quan nhưng những lý do này đã tác động, làm cho khoản vay thiếu an toàn hơn. Khi đó tổ chức tín dụng quyết định chấm dứt cho vay là phù hợp, đúng pháp luật.
Như vậy, quyền chấm dứt cho vay là quyền năng được pháp luật cho phép, trao cho các tổ chức tủi dụng áp dụng đối với khách hàng vay trong trường hợp có những thay đổi, gây bất lợi cho bên cho vay, tạo nguy cơ không đạt được hiệu quả hợp đồng. Chính vì căn cứ phát sinh là các điều kiện thực thi dựa trên những thỏa thuận ban đầu của hợp đồng, hầu hết các ngân hàng khi soạn thảo, thận trọng tự đặt ra những điều khoản mơ hồ, không rõ ràng để khẳng định quyền tự quyết định, chi phối đối với khách hàng.
2. Hậu quả pháp lý khi chấm dứt cho vay, thu hồi vốn trước thời hạn
Trong quan hệ pháp luật dân sự, hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng (do lỗi cố ý) nếu gây thiệt hại thì cá nhân, tổ chức có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác (Điều 360 Bộ luật Dân sự năm 2015). Thiệt hại được bồi thường trong trường hợp này chính là “lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại”(Điều 419; khoản 4 Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2015).
Các quy định của pháp luật không quy định cụ thể, nhưng về nguyên tắc chung, bên có lỗi (khách hàng vay) phải bồi thường thiệt hại cho tổ chức tín dụng. Đó chính là lãi suất lẽ ra tổ chức tín dụng sẽ thu được từ việc cho khách hàng khác vay (các thẩm phán, luật sư gọi theo nghĩa đơn giản “lợi nhuận bị bỏ lỡ”), là khoản lãi trong hạn chứ không phải lãi phạt quá hạn như các hợp đồng cho vay được ký kết thực tế có viện dẫn. Việc tổ chức tín dụng tự chuyển nợ quá hạn hoặc ghi vào hợp đồng điều khoản khung cho phép chuyển nợ quá hạn khi chấm dứt cho vay thu hồi vốn trước hạn, theo tác giả là trái luật, mâu thuẫn với quy định về chuyển nợ quá hạn được luật định.
Như vậy, chấm dứt cho vay thu hồi vốn trước hạn được luật hóa như một biện pháp để tổ chức tín dụng bảo đảm thu hồi vốn vay, tránh những thất thoát do hành vi vi phạm hợp đồng của bên vay gây ra. Đây là biện pháp phòng ngừa, bảo toàn tiền vay, phù hợp với đặc thù kinh doanh rủi ro vốn dĩ cho vay nhiều đối tượng, ngân hàng không thể hiểu rõ, nắm bắt hết tình hình tài chính của khách hàng. Pháp luật cho phép áp dụng điều luật này dựa trên những sai phạm hợp đồng của bên vay song về nguyên tắc, bên vay chỉ phải chịu lãi suất trong hạn.
Tóm lại, hành vi chấm dứt cho vay là quy định đặc thù trong lĩnh vực ngân hàng, tương tự như hành vi đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng (được quy định theo Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2015). Tuy nhiên, áp dụng biện pháp này như được phân tích, mới chỉ dừng lại ở công tác thu hồi tiền vay, đỉều này làm nảy sinh tâm lý đối phó, không chấp hành quyết định của bên vay. Pháp luật cần ấn định mức phạt cụ thể để bảo đảm chi phí, bù đắp những thiệt hại cho các tổ chức tín dụng trong quá trình thực hiện hoạt động thu hồi tiền vay, tìm kiếm nguồn khách hàng mới để cho vay lại.
Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hoạt động vay vốn, giải ngân vốn... Quý khác hàng vui lòng gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng, tài chính trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.