Trả lời:

Chào bạn luật Minh Khuê xin cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi, câu hỏi của bạn đã được chúng tôi nghiên cứu và trả lời như sau: 

1. Cơ sở pháp lý :

Bộ luật lao động năm 2012

Luật bảo hiểm xã hội 2014

2. Nội dung tư vấn :

Thưa luật sư, Cho em hỏi: Em làm việc tại trạm y tế xã mà em đang nuôi con nhỏ 11 tháng. Thì khi con em được bao nhiêu tháng tuổi em phải đi trực đêm ạ. Em cảm ơn.
Luật sư cho em hỏi em là giáo viên hợp đồng thời hạn 1 năm và hiện tại em đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng vậy em được giảm số tiết như thế nào?

Bộ luật lao động 2012 quy định về chế độ làm việc với lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi như sau : 

Điều 155. Bảo vệ thai sản đối với lao động nữ

1. Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong các trường hợp sau đây:

a) Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;

b) Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

5. Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút; trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc. Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.

Vậy rong trường hợp chị đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì mỗi ngày chị sẽ được giảm 1 giờ làm việc , không bị cử đi trực đêm và vẫn được hưởng đủ lượng như với người làm đủ giờ . 

Luật sư cho em hỏi. Em có vào công ty làm việc từ tháng 5.2013. Tuy nhiên, đến tháng 4.2015 Công ty mới cho em tham gia BHXH và ký HĐLĐ thời hạn 1 năm. Và lúc này e mang thai và tháng 11.2015 em sinh con. Đến tháng 6.2016 em đã nghỉ thai sản được 6 tháng và vào làm lại. Đầu tháng 10 Công ty kỷ luật em vì có hiểu nhầm trong công việc và cho em nghỉ việc. Như vậy, giờ em có được quyền lợi nào ạ vì em đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng rất khó khăn khi bị mất việc. Trong thời gian em nghỉ thai sản đến giờ khi HĐLĐ cũ đã hết hạn 1 năm nhưng Công ty vẫn chưa ký lại HĐ mới, nhưng em vấn đóng BHXH bình thường. Mong luật sư tư vấn giúp em. Cảm ơn Luật sư nhiều ạ!

Thứ nhất , việc bạn đã làm việc tại công ty gần 2 năm ( từ 5/2013 đến tháng 4/2015) là trái với quy định của pháp luật , theo khoản 1, 2 điều 2 luật BHXH 2014 thì bạn thuộc đối tượng được đóng BHXH theo quy định của pháp luật về đối tượng đong BHXH :

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:

a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;

b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;

Thứ hai , việc công ty kỷ luật và sa thải bạn trong thời gian bạn nghỉ thai sản và nuôi con dưới 12 tháng tuổi không đúng theo quy định của bộ luật lao động 2012 về bảo vệ quyền lợi cho lao động nữ mang thai và nuôi con nhỏ , cụ thể được quy định tại khoản 3 điều 155 BLLĐ như sau :

3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

4. Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không bị xử lý kỷ luật lao động.

Vậy trong trường hợp này bạ có quyền yêu câu công ty nhận bạn trở lại làm việc và đóng đầy đủ BHXH cho bạn , bạn có thể nhờ đến sự can thiệp , hòa giải của công đoàn cơ sở tại công ty hoặc hòa giải viên lao động , trong trường hợp bạn và công ty không hể thống nhất phương án giải quyết thì bạn có thể yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp lao động

Điều 200 . Cơ quan , cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 

1. Hoà giải viên lao động.

2. Toà án nhân dân.

Điều 201 . Giải quyết tranh chấp bởi hòa giải viên lao động 

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.

Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

Điều 202 thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 

1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

2. Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật lao động - Công ty Luật Minh Khuê.