1.Phụ nữ là gì ?

Phụ nữnữ giới là từ chỉ giống cái của loài người. Phụ nữ thường được dùng để chỉ một người trưởng thành, còn con gái thường được dùng chỉ đến trẻ gái nhỏ hay mới lớn. Bên cạnh đó từ phụ nữ, đôi khi dùng để chỉ đến một con người giống cái, bất kể tuổi tác, như là trong nhóm từ "quyền phụ nữ".

Thông thường, một phụ nữ có hai nhiễm sắc thể X và có khả năng mang thai và sinh con từ tuổi dậy thì cho đến khi mãn kinh. Giải phẫu phụ nữ, như phân biệt với giải phẫu nam, bao gồm ống dẫn trứng, buồng trứng, tử cung, âm hộ, vú, tuyến Skene và tuyến Bartholin. Xương chậu của nữ rộng hơn nam giới, hông thường rộng hơn và phụ nữ có khuôn mặt và lông trên cơ thể khác ít hơn đáng kể. Xét về trung bình, phụ nữ có chiều cao thấp hơn và ít cơ bắp hơn nam giới.

Trong suốt lịch sử loài người, vai trò giới truyền thống thường được xác định và hạn chế các hoạt động và cơ hội của phụ nữ; nhiều học thuyết tôn giáo quy định một số quy tắc nhất định đối với phụ nữ là bắt buộc. Với những hạn chế nới lỏng trong thế kỷ 20 ở nhiều xã hội, phụ nữ đã tiếp cận được với sự nghiệp ngoài vai trò người nội trợ truyền thống và khả năng theo đuổi giáo dục đại học. Bạo lực đối với phụ nữ, cho dù trong gia đình hay trong cộng đồng, có một lịch sử lâu dài và chủ yếu do đàn ông gây ra. Một số phụ nữ bị từ chối quyền sinh sản. Các phong trào và ý thức hệ của nữ quyền có một mục tiêu chung là đạt được bình đẳng giới.

Một số phụ nữ là người có sự phân định tâm lý giới tính không phù hợp với bản sắc giới tính của họ), hoặc là liên giới tính (một dạng khuyết tật bẩm sinh khiến những người sinh ra có đặc điểm cơ quan sinh dục không phù hợp với hình dạng bộ phận sinh dục điển hình của cả nam và nữ).

2.Quyền của phụ nữ trong pháp luật Việt Nam

Giống như ở hầu hết quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam, tỷ lệ phụ nữ cao hơn chút ít so với nam giới. Cụ thể, theo Tổng cục Thống kê, tính ở thời điểm năm 2009, phụ nữ chiếm khoảng 50,5% trong tổng số khoảng 86 triệu công dân Việt Nam.

Một số nhà nghiên cứu (cả người Việt Nam và người nước ngoài) nhận định rằng, về bình đẳng giới, Việt Nam có truyền thống tốt đẹp hơn so với nhiều nước khác trong khu vực. Cụ thể, trong lịch sử Việt Nam, phụ nữ chiếm một vị trí đặc biệt và có uy tín trong gia đình và xã hội cao hơn so với phụ nữ ở nhiều nước láng giềng. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân mà một trong số đó là do suốt quá trình lịch sử, nam giới Việt Nam nhiều lần phải ra trận chống ngoại xâm khiến phụ nữ buộc phải cáng đáng cả công việc gia đình và cộng đồng.

Dù vậy, cần thấy rằng, trong suốt thời kỳ phong kiến, do ảnh hưởng của Nho giáo và một số tập tục truyền thống khác, phụ nữ Việt Nam bị phân biệt đối xử nặng nề. Họ bị cho là thấp kém hơn nam giới, bị “trói chặt” vào công việc tề gia, nội trợ mà không được tham gia công việc xã hội. Cho đến ngày nay, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn ảnh hưởng khá sâu rộng trong xã hội Việt Nam, tạo ra những trở ngại không nhỏ với sự nghiệp giải phóng và thúc đẩy sự tiến bộ của phụ nữ.

Trong thời kỳ thực dân Pháp cai trị, địa vị của phụ nữ Việt Nam về cơ bản không thay đổi đáng kể so với thời phong kiến. Phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ này hầu hết vẫn bị mù chữ và không được tham gia công tác xã hội1. Dù vậy, vào đầu thế kỷ XX, do ảnh hưởng từ các tư tưởng tiến bộ của cách mạng tư sản Pháp, ở Việt Nam đã xuất hiện những cải cách theo hướng giải phóng phụ nữ. Một số ít phụ nữ (chủ yếu con nhà giàu có, quan lại Nam triều và công chức làm cho Pháp) đã được đi học. Một vài trường học cho học sinh nữ đã được lập ra ở Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Phụ nữ đã bắt đầu được tham gia một số hoạt động xã hội... Tuy nhiên, tình trạng phân biệt đối xử, tâm lý coi thường và những nhận thức lạc hậu về vai trò của phụ nữ vẫn rất phổ biến trong mọi tầng lớp xã hội. Minh chứng là ngay một nhà văn khá nổi tiếng thời kỳ này cũng từng phát biểu: “Phụ nữ càng có khả năng học lên cao, họ càng tiêu phí tiền bạc, họ càng khao khát yêu đương và họ sẽ đi đến kết cục là bị nghèo túng cơ cực hơn”

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách thống trị của thực dân, phong kiến, đồng thời giải phóng phụ nữ Việt Nam khỏi địa vị phụ thuộc vào đàn ông đã kéo dài từ nhiều thế kỷ. Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam mới (Hiến pháp năm 1946) đã khẳng định: “Tất cả quyền lực trong nước là của toàn dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, nam nữ, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo... phụ nữ bình đẳng với nam giới trên về phương diện”. Bình đẳng nam nữ từ đó là một trong những nguyên tắc hiến định xuyên suốt trong tất cả các Hiến pháp về sau (năm 1959, 1980 và 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001) của Việt Nam.

Việt Nam thuộc vào nhóm quốc gia sớm tham gia CEDAW (vào ngày 18-12-1982) và đã đạt được nhiều thành tựu trong việc thực hiện Công ước này. Hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam về bình đẳng giới và quyền của phụ nữ bao gồm nhiều văn bản ở nhiều cấp độ, liên quan đến nhiều lĩnh vực; tuy nhiên, các văn bản quan trọng nhất là Hiến pháp 1992, Luật HN&GĐ năm 2000, Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007.

3. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị

Tương ứng với nội dung của các Điều 7,8 CEDAW, Điều 63 Hiến pháp 1992 nêu rõ: “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình”.

Thể chế hóa quy định kể trên của Hiến pháp, Điều 11 Luật bình đẳng giới năm 2006 khẳng định, phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong những lĩnh vực và vấn đề cụ thể như: (i) Tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội; (ii) Tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức; (iii) Tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc Hội, đại biểu HĐND, vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; (iv) Tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức. Điều này đồng thời nêu ra hai biện pháp cơ bản nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị, đó là: (i) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc Hội, đại biểu HĐND; và (ii) Bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước.

Liên quan đến biện pháp thứ nhất, Luật bầu cử ĐBQH năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định số đại biểu Quốc Hội là nữ sẽ do Uỷ ban thường vụ Quốc Hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội LHPNVN, nhằm bảo đảm để phụ nữ có số đại biểu thích đáng trong Quốc Hội (Điều 10). Luật bầu cử ĐBHĐND năm 2003 cũng quy định, thường trực HĐND cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu HĐND, trong đó đảm bảo số lượng thích đáng đại biểu HĐND là phụ nữ (Điều 14).

Liên quan đến biện pháp thứ hai, Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung các năm 2000 và 2003) trước đây và sau này được thay thế bằng Luật cán bộ, công chức năm 2008 đã khẳng định nguyên tắc không phân biệt đối xử trong tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, nâng ngạch, khen thưởng và chế độ đối xử giữa cán bộ, công chức nữ và nam trong các cơ quan quản lý Nhà nước các cấp cũng như các đơn vị sự nghiệp. Nghị định số 117/NĐ-CP ngày 10-10-2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước quy định tuổi dự tuyển đối với cả nam và nữ là như nhau (đều từ đủ 18 đến 40 tuổi, trước đây quy định đối với nữ là từ 18 đến 35 tuổi).

Ngoài ra, để bảo đảm sự tuân thủ các quy định về quyền bình đẳng về chính trị của phụ nữ trên thực tế, Điều 40 Luật bình đẳng giới năm 2006 đề cập các hành vi bị coi là vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong nhiều lĩnh vực mà sẽ bị trừng phạt, trong đó, các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị bao gồm: (i) Cản trở việc nam hoặc nữ tự ứng cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc Hội, đại biểu HĐND, vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp vì định kiến giới; (ii) Không thực hiện hoặc cản trở việc bổ nhiệm nam, nữ vào cương vị quản lý, lãnh đạo hoặc các chức danh chuyên môn vì định kiến giới; (iii) Đặt ra và thực hiện quy định có sự phân biệt đối xử về giới trong các hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc trong quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.

4. Quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế

Tương ứng với nội dung của Điều 15 CEDAW, Điều 63 Hi ến pháp 1992 quy định phụ nữ bình đẳng với nam giới về phương diện kinh tế.

Cụ thể hóa quy định trên của Hi ến pháp, Điều 12 Luật bình đẳng giới năm 2006 nêu rõ, nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động. Điều này cũng nêu ra hai biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm: (i) Ưu đãi về thuế và tài chính cho doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ; (ii) Hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư cho lao động nữ khu vực nông thôn .

Cũng liên quan đến vấn đề trên, một số quy định pháp luật trước đây gây trở ngại cho việc bảo đảm quyền bình đẳng về kinh tế của phụ nữ nay đã được sửa đổi. Ví dụ, Nghị định 70/2001/N Đ-CP ngày 03-10-2001 của Chính ph ủ quy định chi tiết thi hành Luật HNG Đ quy định, bắt đầu từ ngày 18-10-2001, tất cả các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng kể cả đất canh tác và nhà ở khi đăng ký quyền sở hữu đều phải ghi tên của cả vợ và chồng; còn đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đây đã cấp chỉ ghi tên chủ hộ, khi hộ gia đình thực hiện các quyền hoặc hộ gia đình có nhu cầu thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới ghi cả tên vợ và tên chồng. Điều 48 Luật đất đai năm 2003 c ũng quy định, gi ấy ch ứng nhận quyền s ử d ụng đất phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng trong trường h ợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng... Nh ững sửa đổi, bổ sung như vậy bảo đảm quyền lợi cho người vợ được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở – những tài sản có ý nghĩa thiết yếu với hoạt động kinh t ế - cùng với người chồng.

Ngoài ra, để bảo vệ quyền bình đẳng về kinh tế của phụ nữ, BLDS năm 2005 quy định, các giao dịch dân s ự sẽ bị coi là vô hiệu nếu một trong các bên tham gia giao dịch lấy lý do khác biệt về giới tính để cưỡng ép phụ nữ phải ký kết hợp đồng, phải tham gia vào các giao dịch hoặc lợi dụng các trường h ợp khó khăn của phụ  ữ buộc họ phải tham gia vào giao dịch dân sự. Để bảo đảm sự tuân thủ trên thực tế, các quy định về quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, Điều 40 Luật bình đẳng giới năm 2006 xác định những hành vi cụ thể bị coi là vi phạm pháp luật về bình đẳng gi ới trong lĩnh v ực kinh t ế, bao gồm: (i) Cản trở nam hoặc nữ thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động kinh doanh vì định kiến gi ới; (ii) Tiến hành quảng cáo thương mại gây bất lợi cho các chủ doanh nghiệp, thương nhân của một giới nhất định.

5.Khái niệm và ngôn ngữ sử dụng

Trong ngôn ngữ Việt Nam, có nhiều từ gần nghĩa với "nữ giới", đều chỉ một nhóm đối tượng thuộc nữ giới nhưng mang tính phân loại cao hơn. Một số từ tiêu biểu hay gặp là đàn bà, phụ nữ, con gái...

Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới. Nó cho thấy một cái nhìn ít nhất là trung lập, hoặc thể hiện thiện cảm, sự trân trọng nhất định từ phía người sử dụng.

Đàn bà có một định nghĩa tương tự, nhưng không thể hiện sự trang trọng. Nó cho một cái nhìn bao hàm nhìều mặt, cả về khía cạnh xã hội cũng như bản chất sinh học... Thông thường, chỉ nên sử dụng từ "đàn bà" khi cần một cái nhìn thật sự trung lập, hoặc muốn thể hiện một thái độ thiếu thiện cảm, một chút kỳ thị đối với nữ giới đó, bởi nó khiến người ta liên tưởng đến những mặt xấu, hoặc được cho là xấu, mang đặc trưng và thường gặp ở nữ giới.

Con gái chỉ những nữ giới trẻ, thường ở độ tuổi vị thành niên và thanh niên, những người đã có biểu hiện rõ ràng của giới tính nữ (nhỏ hơn nữa thì được gọi là bé gái) nhưng chưa được cho là trưởng thành.

Không có ranh giới rõ rệt giữa các từ này. Có những nữ giới mặc dù chưa kết hôn, chưa quan hệ tình dục... nhưng có nhiều biểu hiện tầm thường vẫn bị coi là "đàn bà"; mặt khác, cũng có những nữ giới đã trưởng thành nhưng dưới một cái nhìn cao hơn, vẫn được cho là ngây thơ, trong sáng... và được gọi là "cô gái".

Ngoài ra, còn một số từ khác để chỉ đối tượng nữ giới, như "mụ", "thị"... nhưng ít được sử dụng và thể hiện thành kiến cá nhân.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)