Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, đòi hỏi sự tổ chức chặt chẽ, thống nhất và đúng pháp luật ở tất cả các cấp. Ở địa phương, công tác bầu cử không chỉ đơn thuần là việc tổ chức bỏ phiếu mà còn bao gồm nhiều hoạt động chuẩn bị, hiệp thương, lập danh sách cử tri, tuyên truyền và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Vì vậy, pháp luật đã quy định rõ về cơ quan, tổ chức và cá nhân phụ trách bầu cử ở địa phương nhằm bảo đảm quá trình bầu cử diễn ra dân chủ, khách quan, minh bạch và đúng trình tự, thủ tục.

1. Quy định về phụ trách bầu cử ở địa phương theo quy định mới

Theo điều 21 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 sửa đổi bởi Khoản 6 Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân sửa đổi 2025, Trong quá trình tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, ở địa phương hình thành hệ thống các cơ quan chuyên trách nhằm bảo đảm việc triển khai bầu cử diễn ra đúng tiến độ, đúng thẩm quyền và thống nhất trên từng địa bàn. Việc xác định rõ các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương giúp phân định trách nhiệm, nâng cao hiệu quả điều hành và bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp trong suốt quá trình bầu cử.

Thứ nhất, Ủy ban bầu cử được thành lập ở tỉnh, thành phố và ở xã, phường, đặc khu (gọi chung là Ủy ban bầu cử). Đây là cơ quan giữ vai trò tổ chức và chỉ đạo công tác bầu cử trong phạm vi địa phương tương ứng. Ủy ban bầu cử chịu trách nhiệm triển khai các nhiệm vụ liên quan đến việc lập danh sách cử tri, tổ chức các đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu, bảo đảm điều kiện vật chất và phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan để cuộc bầu cử được tiến hành đúng kế hoạch.

Thứ hai, Ban bầu cử được thành lập theo từng loại đại biểu và từng cấp chính quyền, bao gồm: Ban bầu cử đại biểu Quốc hội; Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã (gọi chung là Ban bầu cử). Các Ban bầu cử có nhiệm vụ trực tiếp phụ trách công tác bầu cử tại các đơn vị bầu cử cụ thể, thực hiện các công việc liên quan đến danh sách ứng cử viên, tổ chức bỏ phiếu, kiểm phiếu và xác định kết quả bầu cử theo thẩm quyền.

Như vậy, hệ thống các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương được thiết lập theo cơ cấu gồm Ủy ban bầu cử và Ban bầu cử, bảo đảm sự phân công rõ ràng giữa chức năng chỉ đạo, điều hành và chức năng tổ chức thực hiện. Cơ cấu này góp phần tạo nên sự thống nhất, đồng bộ và hiệu quả trong toàn bộ quá trình tổ chức bầu cử tại địa phương.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban bầu cử ở tỉnh trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội

Theo khoản 1 Điều 23 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 sửa đổi bởi Điểm c Khoản 24 và Điểm c Khoản 23 Điều 1Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân sửa đổi 2025, Trong cơ cấu tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, Ủy ban bầu cử ở tỉnh giữ vai trò trung tâm trong việc điều hành và bảo đảm toàn bộ quá trình bầu cử diễn ra đúng pháp luật, đúng tiến độ và thống nhất trên địa bàn. Với phạm vi quản lý rộng và trách nhiệm trực tiếp đối với các đơn vị bầu cử tại địa phương, cơ quan này là đầu mối tổ chức, kiểm tra và phối hợp giữa các tổ chức phụ trách bầu cử ở cơ sở với cơ quan có thẩm quyền ở trung ương. Thông qua hệ thống nhiệm vụ, quyền hạn được giao, Ủy ban bầu cử ở tỉnh góp phần bảo đảm tính nghiêm túc, khách quan và minh bạch của cuộc bầu cử, đồng thời tạo điều kiện để cử tri thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của mình.

Cụ thể, trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội, Ủy ban bầu cử ở tỉnh có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Chỉ đạo việc chuẩn bị và tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội ở các đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội trên địa bàn tỉnh, thành phố; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội của Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Tổ bầu cử;

- Chỉ đạo thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử đại biểu Quốc hội ở địa phương;

- Chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội ở địa phương;

- Nhận và xem xét hồ sơ của người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế ở địa phương giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội và hồ sơ của người tự ứng cử đại biểu Quốc hội tại địa phương; gửi danh sách trích ngang lý lịch, bản sao tiểu sử tóm tắt và bản kê khai tài sản, thu nhập của những người được giới thiệu ứng cử và những người tự ứng cử đại biểu Quốc hội đến Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh để tiến hành hiệp thương; gửi hồ sơ và danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội tại địa phương đến Hội đồng bầu cử quốc gia;

- Lập danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội theo đơn vị bầu cử và báo cáo để Hội đồng bầu cử quốc gia quyết định;

- Chỉ đạo, kiểm tra việc lập và niêm yết danh sách cử tri;

- Nhận tài liệu, phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội từ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và phân phối cho các Ban bầu cử đại biểu Quốc hội chậm nhất là 17 ngày trước ngày bầu cử;

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội của Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Tổ bầu cử; khiếu nại, tố cáo về bầu cử đại biểu Quốc hội do Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Tổ bầu cử chuyển đến; khiếu nại, tố cáo về người ứng cử đại biểu Quốc hội;

- Nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội của các Ban bầu cử đại biểu Quốc hội; lập biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội ở địa phương;

- Báo cáo tình hình tổ chức và tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội theo yêu cầu của Hội đồng bầu cử quốc gia;

- Chuyển hồ sơ, biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội đến Hội đồng bầu cử quốc gia;

- Tổ chức việc bầu cử thêm, bầu cử lại đại biểu Quốc hội theo quyết định của Hội đồng bầu cử quốc gia.

Với hệ thống nhiệm vụ, quyền hạn toàn diện và chặt chẽ như trên, Ủy ban bầu cử ở tỉnh giữ vai trò then chốt trong việc bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội tại địa phương được tiến hành đúng quy trình, đúng thẩm quyền và phản ánh trung thực ý chí của cử tri. Việc thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ này không chỉ góp phần bảo đảm kết quả bầu cử chính xác, khách quan mà còn củng cố niềm tin của nhân dân vào tính minh bạch và nghiêm minh của hoạt động bầu cử.

3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban bầu cử các cấp trong bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

Theo khoản 2 Điều 23 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 sửa đổi bởi Điểm c Khoản 23 Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân sửa đổi 2025Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015Trong cơ chế tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử ở các cấp giữ vai trò trực tiếp chỉ đạo và tổ chức thực hiện toàn bộ quá trình bầu cử tại địa phương mình. Với phạm vi thẩm quyền tương ứng theo từng cấp chính quyền, cơ quan này bảo đảm sự thống nhất trong điều hành, đồng thời chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, khách quan và chính xác của kết quả bầu cử. Hệ thống nhiệm vụ, quyền hạn được giao cho Ủy ban bầu cử các cấp thể hiện rõ vai trò trung tâm trong việc tổ chức, kiểm tra, tổng hợp và xác nhận kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Cụ thể, trong việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử ở các cấp có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Chỉ đạo việc tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình ở địa phương; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành pháp luật về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân;

b) Quản lý và phân bổ kinh phí tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp mình;

c) Chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương;

d) Chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở địa phương;

đ) Ấn định và công bố số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu được bầu của mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp mình;

e) Nhận và xem xét hồ sơ của những người được tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội; đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, thôn, tổ dân phố ở địa phương giới thiệu ứng cử và những người tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình; gửi danh sách trích ngang lý lịch, bản sao tiểu sử tóm tắt và bản kê khai tài sản, thu nhập của người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân đến Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp để tiến hành hiệp thương;

g) Lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình theo từng đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; xóa tên người ứng cử trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình;

h) Nhận tài liệu, phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân từ Ủy ban nhân dân cùng cấp và phân phối cho các Ban bầu cử chậm nhất là 25 ngày trước ngày bầu cử;

i) Nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình ở từng đơn vị bầu cử do các Ban bầu cử gửi đến; lập biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của cấp mình;

k) Chỉ đạo việc bầu cử thêm, bầu cử lại đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định tại các điều 79, 80, 81 và 82 của Luật này;

l) Xác nhận và công bố kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; xác nhận tư cách của người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân;

m) Trình Hội đồng nhân dân khóa mới báo cáo tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và kết quả xác nhận tư cách đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp được bầu;

n) Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thực hiện công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình, Tổ bầu cử; khiếu nại, tố cáo về bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình do Ban bầu cử, Tổ bầu cử chuyển đến; khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, việc lập danh sách người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình;

o) Bàn giao các biên bản tổng kết và hồ sơ, tài liệu về cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cho Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp khóa mới.

Với hệ thống nhiệm vụ, quyền hạn đầy đủ và toàn diện như trên, Ủy ban bầu cử các cấp bảo đảm cho cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được tổ chức chặt chẽ, đúng trình tự và phản ánh chính xác ý chí của cử tri. Việc thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ này góp phần nâng cao chất lượng đại biểu được bầu, đồng thời củng cố tính minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.

Kết luận 

Quy định rõ ràng về cơ quan phụ trách bầu cử ở địa phương thể hiện sự phân công trách nhiệm cụ thể, bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong tổ chức thực hiện. Nhờ có hệ thống tổ chức chặt chẽ từ tỉnh đến cơ sở, mọi khâu của quá trình bầu cử đều được kiểm soát và thực hiện theo đúng quy định pháp luật. Điều này không chỉ góp phần bảo đảm quyền bầu cử của công dân được thực hiện đầy đủ mà còn nâng cao tính minh bạch, công khai và dân chủ của cuộc bầu cử. Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, việc tổ chức và vận hành hiệu quả các cơ quan phụ trách bầu cử ở địa phương giữ vai trò hết sức quan trọng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính trị và sự phát triển bền vững của đất nước.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp.