1. Khái niệm về nhà đầu tư chứng khoán cá nhân
Khoản 16 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019: "Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán".
Nhà đầu tư chứng khoán cá nhân là một trong những chủ thể tham gia thị trường chứng khoán. Họ là những người có nguồn vốn nhàn rỗi và thực hiện đầu tư chứng khoán để nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Những nhà đầu tư chứng khoán cá nhân ngày càng gia tăng về số lượng do nền kinh tế ngày càng phát triển, đồng thời là lực lượng cung cấp khối lượng vốn lớn.
Theo khoản 18 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020: "Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài". Như vậy, nhà đầu tư chứng khoán cá nhân là công dân Việt Nam và có thêm cả cá nhân người nước ngoài. Việc thực hiện hoạt động đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán được coi là hoạt động thương mại nên cá nhân phải đáp ứng điều kiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Hiện nay, nhà đầu tư chứng khoán cá nhân thường có vốn đầu tư nhỏ lẻ, không có chiến lược để đầu tư một cách dài hạn và dễ bị ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý.
2. Phân loại nhà đầu tư chứng khoán cá nhân
Căn cứ vào mức độ chấp nhận sự rủi ro của nhà đầu tư chứng khoán cá nhân thì có thể chia thành 02 loại như sau:
- Các nhà đầu tư cá nhân chấp nhận rủi ro: họ là những nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư chứng khoán nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Họ thường là nhà đầu tư lớn, đầu tư ngắn hạn và mua bán chứng khoán để hưởng lãi cũng như sự chênh lệch về giá. Họ nắm bắt thông tin rất nhanh và có sự am hiểu nhất định về chứng khoán, đồng thời có khả năng phân tích các thông tin.
- Các nhà đầu tư cá nhân không chấp nhận rủi ro: họ là những nhà đầu tư an toàn, họ tìm những cách thức để giảm thiểu rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận có thể ở mức an toàn, rủi ro được hạn chế ở mức thấp nhất. Họ thường là nhà đầu tư nhỏ và đầu tư dài hạn, họ sở hữu chứng khoán với số lượng ít, không quá chuyên sâu về lĩnh vực này và khả năng tiếp cận thông tin cũng bị hạn chế hơn so với nhà đầu tư chứng khoán cá nhân chấp nhận rủi ro.
Nhà đầu tư cá nhân không chấp nhận rủi ro chiếm số lượng lớn trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Những nhà đầu tư chưa có khả năng đánh giá các loại chứng khoán; đầu tư theo tin đồn, theo những nhà đầu tư khác cùng tham gia thị trường chứng khoán, theo số đông và không quan tâm nhiều đến báo cáo tài chính và khả năng kinh doanh của doanh nghiệp.
3. Quy định pháp luật về công bố thông tin chứng khoán
Công bố thông tin chứng khoán là hoạt động rất quan trọng, cần thiết khi thực hiện hoạt động đầu tư chứng khoán. Công bố thông tin nhằm đảm bảo tính công bằng trong hoạt động mua bán chứng khoán, hạn chế những rủi ro cho các nhà đầu tư chứng khoán.
Thông tin về chứng khoán phải được công bố dựa trên nguyên tắc "công bằng, công khai, minh bạch", khẳng định quyền bình đẳng được tiếp cận thông tin giữa các nhà đầu tư chứng khoán là như nhau. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định rằng: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, lập hội, biểu tình...."
Đối với những nhà đầu tư chứng khoán cá nhân, thông tin về khả năng tài chính của doanh nghiệp, về tổ chức bộ máy công ty, quản trị công ty,...rất hữu ích cho việc đưa ra quyết định có nên mua chứng khoán mà doanh nghiệp đó phát hành hay không. Hiện nay, vấn đề về công bố thông tin đã được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán.
Thông tư số 96/2020/TT-BTC ngày 16 tháng 11 năm 2020 hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán. Quy định những đối tượng thực hiện công bố thông tin ra công chúng như: công ty đại chúng; tổ chức phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng; tổ chức niêm yết trái phiếu doanh; tổ chức phát hành thực hiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng; công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán; chi nhánh công ty chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam và chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là chi nhánh công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam); văn phòng đại diện công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam; quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng; sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con (sau đây gọi là Sở giao dịch chứng khoán), Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam;...
Nguyên tắc công bố thông tin được quy định tại Điều 119 Luật Chứng khoán năm 2019 và Điều 4 Thông tư số 96/2020/TT-BTC ngày 16 tháng 11 năm 2020 hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán như sau:
Thứ nhất, việc công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định pháp luật. Việc công bố các thông tin cá nhân bao gồm: Căn cước công dân, Chứng minh nhân dân, Chứng minh quân nhân, Hộ chiếu còn hiệu lực, địa chỉ liên lạc, địa chỉ thường trú, số điện thoại, số fax, thư điện tử, số tài khoản giao dịch chứng khoán, số tài khoản lưu ký chứng khoán, số tài khoản ngân hàng, mã số giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ chỉ được thực hiện nếu cá nhân đó đồng ý.
Thứ hai, đối tượng công bố thông tin phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin công bố. Trường hợp có sự thay đổi nội dung thông tin đã công bố, đối tượng công bố thông tin phải công bố kịp thời, đầy đủ nội dung thay đổi và lý do thay đổi so với thông tin đã công bố trước đó.
Thứ ba, các đối tượng theo quy định của pháp luật khi công bố thông tin phải đồng thời báo cáo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán nơi chứng khoán đó niêm yết, đăng ký giao dịch về nội dung thông tin công bố, bao gồm đầy đủ các thông tin theo quy định.
Thứ tư, việc công bố thông tin của tổ chức phải do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền công bố thông tin thực hiện. Việc công bố thông tin của cá nhân do cá nhân tự thực hiện hoặc ủy quyền cho tổ chức hoặc cá nhân khác thực hiện.
Thứ năm, các đối tượng công bố thông tin có trách nhiệm bảo quản, lưu giữ thông tin đã công bố, báo cáo theo quy định như sau:
Các thông tin công bố định kỳ, thông tin về việc đăng ký công ty đại chúng phải được lưu giữ dưới dạng văn bản (nếu có) và dữ liệu điện tử tối thiểu 10 năm. Các thông tin này phải được lưu giữ và truy cập được trên trang thông tin điện tử của đối tượng công bố thông tin tối thiểu là 05 năm.
Các thông tin công bố bất thường, theo yêu cầu hoặc các hoạt động khác phải được lưu giữ và truy cập được trên trang thông tin điện tử của đối tượng công bố thông tin tối thiểu là 05 năm.
4. Các hành vi bị nghiêm cấm về công bố thông trên thị trường chứng khoán
Điều 12 Luật Chứng khoán năm 2019, quy định những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán có liên quan đến công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, gồm:
- Trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện hành vi gian lận, lừa đảo, làm giả tài liệu, tạo dựng thông tin sai sự thật hoặc công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin hoặc bỏ sót thông tin cần thiết gây hiểu nhầm nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến hoạt động chào bán, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, cung cấp dịch vụ về chứng khoán.
- Sử dụng thông tin nội bộ để mua, bán chứng khoán cho chính mình hoặc cho người khác; tiết lộ, cung cấp thông tin nội bộ hoặc tư vấn cho người khác mua, bán chứng khoán trên cơ sở thông tin nội bộ.
- Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng để thực hiện việc mua, bán chứng khoán nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo; giao dịch chứng khoán bằng hình thức cấu kết, lôi kéo người khác mua, bán để thao túng giá chứng khoán; kết hợp hoặc sử dụng các phương pháp giao dịch khác hoặc kết hợp tung tin đồn sai sự thật, cung cấp thông tin sai lệch ra công chúng để thao túng giá chứng khoán.
5. Quy định xử phạt vi phạm về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 156/2020/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2020 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán và quy định xử phạt vi phạm hành chính về công bố thông tin tại Điều 42 Nghị định số 156/2020/NĐ-CP, cụ thể:
Thứ nhất, phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm như sau: không tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật về phương tiện, hình thức công bố thông tin; không lưu giữ thông tin công bố theo quy định pháp luật.
Thứ hai, phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 70 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:
Công bố thông tin không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của Ủy ban chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con theo quy định:
- Công ty đại chúng phải công bố thông tin theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con khi xảy ra một trong các sự kiện sau đây: Sự kiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; Có thông tin liên quan đến công ty ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán và cần phải xác nhận thông tin đó. (Khoản 3 Điều 120 Luật Chứng khoán năm 2019)
- Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, chi nhánh công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam công bố thông tin theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con khi có thông tin liên quan đến công ty, chi nhánh ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. (Khoản 4 Điều 123 Luật Chứng khoán năm 2019)
- Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán công bố thông tin về quỹ đại chúng theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con khi xảy ra một trong các sự kiện sau đây: có thông tin liên quan ảnh hưởng đến việc chào bán, giá chứng chỉ quỹ đại chúng; có thay đổi bất thường về giá, khối lượng giao dịch chứng chỉ quỹ đại chúng. (Khoản 3 Điều 124 Luật Chứng khoán năm 2019)
Công bố thông tin không đầy đủ nội dung theo quy định pháp luật hoặc theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con.
Thứ ba, phạt tiền từ 70 triệu đồng đến 100 triệu đối với một số hành vi sau đây: Không công bố đối với thông tin phải công bố theo quy định pháp luật hoặc theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con; Không xác nhận hoặc đính chính thông tin hoặc xác nhận, đính chính thông tin không đúng thời hạn theo quy định pháp luật khi có thông tin làm ảnh hưởng đến giá chứng khoán hoặc khi nhận được yêu cầu xác nhận, đính chính thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con.
Thứ tư, phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với hành vi công bố thông tin sai lệch, hành vi tạo dựng thông tin sai sự thật hoặc công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán.
Ngoài ra, buộc hủy bỏ thông tin hoặc cải chính thông tin đối với hành vi vi phạm như: hành vi công bố thông tin sai lệch, hành vi tạo dựng thông tin sai sự thật hoặc công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán.