1. Quyền ưu tiên của người phụ nữ khi ly hôn?

Hệ thống pháp luật của Việt Nam nói chung và pháp luật hôn nhân gia đình nói riêng đều có các chính sách ưu tiên, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ (Người mẹ, người vợ) khi ly hôn. Điều này thể hiện rõ trong một số quy định của Luật hôn nhân như sau:
  • Thứ nhất, tước bỏ quyền ly hôn của người chồng khi vợ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Nhưng lại không cấm người phụ nữ được quyền ly hôn trong giai đoạn này.
  • Thứ hai, con dưới 36 tháng tuổi quyền nuôi thuộc về người mẹ. Trừ trường hợp người mẹ không muốn hoặc không đủ điều kiện nuôi con.
  • Thứ ba, quyền lợi của người mẹ (người vợ) luôn được đảm bảo nguyên tắc chia đôi tài sản chung khi ly hôn.

Trên đây, là 03 yếu tố căn bản thể hiện sự bảo vệ mang tính ưu tiên cho người phụ nữ khi tiến hành thủ tục ly hôn tại toà án. Luật Minh Khuê phân tích chi tiết hơn về thủ tục ly hôn để quý khách tham khảo:

Căn cứ quy định Luật hôn nhân và gia đình 2014 và hướng dẫn của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định cụ thể:

Quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn:

  • Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.
  • Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn

Thủ tục ly hôn, gồm (Thủ tục ly hôn thuận tình và thủ tục ly hôn đơn phương).

Thủ tục đơn phương ly hôn, hồ sơ bao gồm:

  • Đơn xin ly hôn theo mẫu.
  • Căn cước hoặc hộ chiếu sẽ thay thế cho Bản sao sổ hộ khẩu/Bản sao chứng minh nhân dân.
  • Những chứng từ chứng minh tài sản chung của vợ chồng (nếu có tài sản chung cần chia).
  • Bản sao giấy khai sinh của con bạn.
  • Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính). Trong trường hợp mất bản chính có thể đến nơi đăng ký kết hôn trước đây xin cấp lại bản sao hợp lệ, phải trình bày rõ lý do không có bản chính trong đơn ly hôn.

Lưu ý: các bản sao giấy tờ trên cần công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật.

  • Nơi nộp hồ sơ: Toà án nhân dân quận/huyện nơi bị đơn có hộ khẩu thuờng trú, hoặc cư trú.
  • Thời hạn giải quyết: thời hạn giải quyết đơn phương ly hôn có thể là 2 tháng đến 6 tháng. Và thời hạn mở phiên tòa là từ 1 đến 2 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Thủ tục thuận tình ly hôn, hồ sơ bao gồm:

  • Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn;
  • Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);
  • Căn cước hoặc hộ chiếu sẽ thay thế cho Chứng minh nhân dân, hộ khẩu của vợ và chồng (theo quy định trước đây);
  • Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);
  • Những chứng từ chứng minh tài sản chung của vợ chồng (nếu có tài sản chung cần chia).

- Nơi nộp hồ sơ: Tòa án nhân dân quận, huyện nơi cư trú, làm việc của một trong hai bên.

- Thời gian giải quyết:

  • Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Tòa án phải thụ lý vụ án, thông báo để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi nộp án phí, người khởi kiện nộp cho tòa biên lai nộp tiền tạm ứng án phí để Tòa thụ lý vụ án.
  • Trong thời hạn 15 ngày, nếu Tòa án hòa giải không thành, xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Toà án công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con; nếu không thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định.
  • Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hòa giải không thành, nếu hai bên đương sự không thay đổi nội dung yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn:

  • Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
  • Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
  • Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ bảy tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
  • Con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thoả thuận khác hoặc mẹ không đủ điều kiện trực tiếp nuôi ccon

Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

  • Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
  • Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  • Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.
  • Trong trường hợp cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

- Trong trường hợp có căn cứ khi người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện, thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, gồm:

  • Người thân thích;
  • Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
  • Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
  • Hội liên hiệp phụ nữ.

Quyền thăm nom con sau khi ly hôn

  • Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
  • Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Chia tài sản khi ly hôn thực hiện như sau:

Quy định về tài sản chung: Tài sản chung của vợ chồng

  • Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân;
  • Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
  • Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
  • Trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận, không thỏa thuận được thì chia như sau:

- Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

  • Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
  • Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
  • Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
  • Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

-  Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

- Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Quý khách có thể dựa vào nội dung tư vấn trên đây để trả lời câu hỏi của mình. Mọi vướng mắc vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến, gọi: 1900.6162 

Quyền lợi của người phụ nữ khi tiến hành thủ tục ly hôn có được ưu tiền hơn không theo quy định của luật hôn nhân ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

 

2. Câu hỏi thường gặp về ly hôn, chia tài sản, quyền nuôi con

2.1 Muốn nuôi con sau khi ly hôn cần thủ tục gì? 

Chúng tôi tư vấn cho quý khách 2 cách như sau:

  • Cách 1: Vợ chồng có thể thỏa thuận với nhau để vợ hoặc chồng là người trực tiếp nuôi dạy, chăm sóc con và người kia có nghĩa vụ cấp dưỡng.
  • Cách 2: Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con thì có thể yêu cầu Tòa án quyết định người được trực tiếp nuôi con.

Về nguyên tắc, sau khi ly hôn người vợ hoặc chồng vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con theo quy định tại điều 81, Luật hôn nhân và gia đình 2014 về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.

Như vậy, trong trường hợp của chị, các cháu đều trên 7 tuổi đồng thời nguyện vọng của hai cháu là muốn sống cùng với chị cho nên Tòa án sẽ xem xét đến nguyện vọng của con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ theo Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể: Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Bạn lưu ý trong một số trường hợp pháp luật quy định vẫn có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con theo điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

 

2.2 Ly hôn vợ có quyền đòi chia căn nhà do bố mẹ chồng để lại?

Hiện nay anh tiến tới quyết định ly hôn với vợ mình, pháp luật không cấm về hành vi này vì các con anh hiện nay đã trên 12 tháng tuổi. Về việc phân chia tài sản:

Về nguyên tác chỉ phân chia tài sản là tài sản chung, phân chia tài sản chung vợ chồng, để xác định thế nào là tài sản chung anh căn cứ điều 33, Luật hôn nhân và gia đình 2014 gồm:

  • Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân;
  • Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung;
  • Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng (trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng).

Do đó, mảnh đất này không có căn cứ cho rằng đây là tài sản chung của vợ chồng anh chị, thế nên khi ly hôn vợ anh không có quyền phân chia bởi:

  • Thứ nhất, mảnh đất này không có sổ đỏ, không có căn cứ sở hữu thuộc về anh chị.
  • Thứ hai, khi bố mẹ anh mất đi mà không để lại di chúc thì di sản sẽ phân chia theo quy định của pháp luật cụ thể là theo hàng thừa kế và con dâu thì không thuộc hanhg thừa kế. Do vậy di sản này chỉ được thừa kế cho anh và những người khác thuộc hàng thừa kế thứ nhật nếu có.

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật thì vợ anh sẽ không được quyền chia căn nhà và đất này.

 

2.3 Chưa ly hôn có được sống chung với người khác? 

Hiện nay, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam chưa có quy định về chế định ly thân. Vậy nên mặc dù hai anh chị không còn sống chung với nhau, thì về mặt phương diện pháp luật, hai anh chị vẫn là vợ chồng, vẫn có quyền lợi và nghĩa vụ ràng buộc với nhau.

Theo quy định Điều 5, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, trong số các hành vi bị cấm có bao gồm: "Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ".

Tùy theo mức độ, hậu quả gây ra mà người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Về mức xử phạt vi phạm hành chính, điểm b, khoản 1, Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã có quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác.

Về truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây hậu quả nghiêm trọng thì người vi phạm có thể thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến một năm. Phạm tội trong trường hợp đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm (Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017).

Như vậy, về việc vợ chồng anh đang ly thân nhưng nếu anh lại chung sống với người phụ nữ khác là vi phạm pháp luật. Khi Tòa án chưa xử cho ly hôn và bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật thì anh và vợ anh vẫn là vợ chồng, vẫn trong thời kỳ hôn nhân. Luật Hôn nhân và gia đình cũng như Bộ luật hình sự nghiêm cấm người đang có vợ hoặc có chồng lại chung sống với người khác như vợ chồng.

 

2.4 Tiền được tặng cho lúc ly thân có phải chia khi ly hôn?

Trước hết, pháp luật Hôn nhân gia đình Việt Nam không thừa nhận việc ly thân về mặt pháp lý là sự chấm dứt tạm thời quan hệ hôn nhân, mà chỉ xem xét như là một trong những căn cứ để ly hôn. Mà thời gian ly thân vẫn được xem là trong thời kỳ hôn nhân của bạn và chồng bạn. Về nguyên tắc tài sản chung vợ chồng căn cứ theo quy định của điều 33, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy nếu số tiền mẹ ruột bạn cho có căn cứ xác định đây là tài sản được tặng cho chung thì sẽ được chia khi ly hôn. Còn nếu không có căn cứ chứng minh số tiền này được tặng cho chung, hay bạn có thể chứng minh ý chí của mẹ bạn lúc tặng cho bạn số tiền trên là tặng cho riêng bạn để trang trải cuộc sống, để nuôi các con chứ không phải là tặng cho chung vợ chồng thì số tiền trên bạn không cần phải chia cho chồng khi ly hôn.

Vợ chồng bạn cần chuẩn bị một bộ hồ sơ gồm các giấy tờ trên và nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp quận huyện nơi thường trú của vợ chồng bạn. Trong trường hợp vợ chồng thuận tình ly hôn thì Nhà nước và xã hội khuyến khích hòa giải ở cơ sở. Nếu hòa giải ở cơ sở không thành thì sau khi thụ lý đơn thuận tình ly hôn, sẽ tiến hành thủ tục hòa giải ở Tòa án theo quy định tại Điều 54 Luật hôn nhân và gia đình 2014: Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự".

Nếu hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án lập biên bản về việc tự nguyện ly hôn và hòa giải đoàn tụ không thành. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày lập biên bản, nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không thay đổi ý kiến, Viện Kiểm sát cũng không phản đối thỏa thuận đó thì Tòa án quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không mở phiên Tòa khi có đầy đủ các điều kiện sau:

  • Hai bên đã tự thỏa thuận được với nhau về việc phân chia hoặc không phân chia tài sản.
  • Hai bên đã tự thỏa thuận được với nhau về việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc con.
  • Sự thỏa thuận của hai vợ chồng trong từng trường hợp cụ thể này là đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con.

Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, Tòa án phải thụ lý vụ án, thông báo để đương sự nộp tiền tạm ứng án phí. Sau khi nộp án phí, người khởi kiện nộp cho Tòa biên lai tạm ứng án phí để Tòa thụ lý vụ án.

Trong thời hạn 15 ngày, Tòa án hòa giải không thành mà xét thấy các bên thực sự thuận tình và tự nguyện ly hôn, đồng thời đã thỏa thuận được về việc phân chia tài sản, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và công nhận những thỏa thuận đó; nếu không thỏa thuận hoặc thỏa thuận nhưng không đảm bảo quyền và lợi ích của vợ và con thì Tòa án quyết định.

Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày hòa giải không thành, nếu hai bên đương sự không thay đổi nội dung yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn thì Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.