Trả lời:

Về nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng là do các bên tự thỏa thuận và những thỏa thuận này sẽ có hiệu lực pháp luật nếu chúng không trái với các quy định của pháp luật. Theo quy định của pháp luật về nhượng quyền thương mại của hầu hết các nước và theo Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 thì quyền và nghĩa vụ chủ yếu của các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại được cụ thể hoá khá rõ ràng:

1. Quyền của bên nhượng quyền

Nếu giữa bên nhượng quyền vả bên nhận quyền không có thỏa thuận nào khác thì bên nhượng quyền có các quyền sau đây:

Một là, nhận tiền nhượng quyền;

Hai là, tổ chức quảng cáo cho hệ thống nhượng quyền thương mại và mạng lưới nhượng quyền thương mại;

Ba là, kiểm ha định kì hoặc đột xuất hoạt động của bên nhận quyền nhằm bảo đảm sự thống nhất của hệ thống nhượng quyền thương mại và sự ổn định về chất lượng hàng hoá, dịch vụ. Pháp luật thương mại Việt Nam cũng quy định tương tự về quyền của thương nhân nhượng quyền. Tuy nhiên, đối với quyền được kiểm soát của bên nhượng quyền trong hệ thống nhượng quyền nói chung và trong quan hệ đối với từng bên nhận quyền trong từng hợp đồng nhượng quyền thương mại nói riêng thì ở Việt Nam chưa có quy định cụ thể. Trong một bối cảnh pháp luật không quy định nhiều về vấn đề này, các bên phải tự thiết kế nên những điều khoản nhằm ràng buộc trách nhiệm và tự bảo vệ quyền lọi hợp pháp của chính mình trong quan hệ nhượng quyền thương mại.

2. Nghĩa vụ của bên nhượng quyền

Xuất phát từ bản chất của quan hệ nhượng quyền thương mại, hầu hết pháp luật về nhượng quyền thương mại đều quy định rằng nếu giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền không có thỏa thuận nào khác thì bên nhượng quyền có các nghĩa vụ sau đây:

Một là, cung cấp tài liệu hướng dẫn về hệ thống nhượng quyền thương mại cho bên nhận quyền;

Hai là, đào tạo ban đầu và cung cấp frợ giúp kĩ thuật thường xuyên cho thương nhân nhận quyền để điều hành hoạt động theo đúng hệ thống nhượng quyền thương mại;

Ba là, thiết kế và sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ bằng chi phí của thương nhân nhận quyền;

Bốn là, bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng được ghi trong hợp đồng nhượng quyền;

Năm là, đối xử bình đẳng với các thương nhân nhận quyền trong hệ thống nhượng quyền thương mại.

Đối với những nghĩa vụ chính của bên nhượng quyền như đã kể trên, pháp luật Việt Nam cũng không có khác biệt gì đáng kể so với pháp luật các nước khác. Đối với một số quốc gia hoặc các tổ chức quốc tế khác, ngoài những quy định về nghĩa vụ chủ yếu của bên nhượng quyền còn có những mối quan tâm đặc biệt tới từng phần chi tiết của hệ thống các nghĩa vụ này.

3. Quyền của bên nhận quyền

Trong quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại, xét về khía cạnh kinh tế cũng như khía cạnh pháp lý, bên nhận quyền phải chịu nhiều ràng buộc từ phía bên nhượng quyền ở mọi thời điểm, lúc ký kết hợp đồng cũng như lúc thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, bên cạnh những ràng buộc về mặt nghĩa vụ đó, bên nhận quyền cũng có một số quyền đối với bên nhượng quyền, những quyền này cũng chính là mối ràng buộc trở lại của bên nhận quyền đối với bên nhượng quyền. Cụ thể, bên nhận quyền có thể:

- Yêu cầu thương nhân nhượng quyền cung cấp đầy đủ trợ giúp kĩ thuật có liên quan đến hệ thống nhượng quyền thương mại;

- Yêu cầu thương nhân nhượng quyền đối xử bình đẳng như với các thương nhân nhận quyền khác trong hệ thống nhượng quyền thương mại.

Ở Việt Nam, chỉ dừng lại ở những quy định mang tính chất định hướng, chưa có những quy định vạch ra những giới hạn cụ thể hay những điều kiện cụ thể để thực hiện những quyền này. Quan hệ nhượng quyền thương mại được nhìn nhận là quan hệ khá phức tạp và có thể bị lợi dụng, cấu thành quan hệ cạnh tranh không lành mạnh, gây ảnh hưởng nặng nề cho nền kinh tế, xã hội. Để giải quyết vấn đề này, pháp luật của một số nước và tổ chức quốc tế, đã quy định thêm một số quyền cho bên nhận quyền như: quyền được từ chối nhận mua nguyên vật liệu hoặc hàng hoá từ một nguồn được bên nhượng quyền chỉ định nếu việc mua hàng đó không hề có ảnh hưởng đến tính hệ thống của hoạt động nhượng quyền thương mại; quyền được từ chối giao dịch thương mại với các bên thứ ba nếu các giao dịch này ảnh hưởng đến việc bảo mật thông tin về quyền thương mại cho bên nhượng quyền; quyền được tự do ấn định giá bán lẻ đối với hàng hoá, dịch vụ.

4. Nghĩa vụ của bên nhận quyền

Nghĩa vụ của bên nhận quyền đối với bên nhượng quyền và các bên thứ ba chính là những điều kiện mà bên nhận quyền phải đáp ứng khi chấp nhận tham gia quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại. Cụ thể:

+ Trả tiền nhượng quyền và các khoản thanh toán khác theo hợp đồng nhượng quyền thương mại;

+ Chấp nhận sự kiểm soát, giám sát và hướng dẫn của bên nhượng quyền; tuân thủ các yêu cầu về thiết kế, sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ của thương nhân nhượng quyền;

+ Giữ bí mật về bí quyết kinh doanh đã được nhượng quyền, kể cả sau khi hợp đồng nhượng quyền thương mại kết thúc hoặc chấm dứt;

+ Ngừng sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh và các quyền sở hữu trí tuệ khác (nếu có) hoặc hệ thống của bên nhượng quyền khi kết thúc hoặc chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại;

+ Điều hành hoạt động phù hợp với hệ thống nhượng quyền thương mại;

+ Không được nhượng quyền lại trong trường hợp không có sự chấp thuận của bên nhượng quyền.

Về cơ bản giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước khác trên thế giới liên quan đến quyền và nghĩa vụ cửa các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại không có nhiêu điểm khác biệt. Tuy nhiên, sự cụ thể hoá một cách chi tiết các dấu hiệu nhận biết từng nghĩa vụ trong trọn vẹn của chúng thì không phải đã được thể hiện rõ trong pháp luật thương mại Việt Nam.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)