Kính chào công ty Luật Minh Khuê. Theo tôi được biết quyền sống là quyền tự nhiên và cơ bản của con người. Bên cạnh đó tôi cũng có tham khảo nhiều bài viết về quyền sống của thai nhi và có nhiều quan điểm khác nhau. Vậy trong quy định của pháp luật quốc tế quy định như thế nào về vấn đề này? Pháp luật Việt Nam có ghi nhận về quyền sống của thai nhi hay không? Rất mong nhận được phản hồi từ luật sư. Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Hồng Thắm - Hà Giang

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Quyền sống là gì?

Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Và Quyền sống (the right to life) là một quyền tự nhiên, cơ bản của con người được ghi nhận trong các văn kiện cốt lõi của luật nhân quyền quốc tế và pháp luật quốc gia.

"Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tuỳ tiện”

2. Vấn đề quyền sống của thai nhi theo luật nhân quyền quốc tế và pháp luật của một số quốc gia

2.1. Quan điểm luật quốc tế về quyền sống của thai nhi

Quyền sống được hiểu là thuộc về tất cả mọi người, tuy nhiên, quyền sống của con người bắt đầu tồn tại từ thời điểm nào? Cách hiểu cơ bản nhất là quyển sống sẽ bắt đầu từ khi con người sinh ra đến lúc mất đi, tuy nhiên, sự sống của con người lại được hình thành từ giai đoạn phôi thai. Trong 9 tháng mang thai, cuộc sống của thai nhi gắn liền với cuộc sống của người mẹ, vì vậy, đôi khi việc duy trì quyền sống của thai nhi có gây trở ngại đến cuộc sống của người mẹ.

Liên quan đến quyền sống của thai nhi, hiện đang có những quan điểm trái chiều, đặc biệt về việc nạo phá thai, ở đây, nếu phôi thai (thai nhi) được coi là con người và được hưỏng quyền sống thì việc nạo phá thai rõ ràng đã vi phạm nghiêm trọng quyền sống của con người. Hiện nay, cơ bản có ba luồng quan điểm về vấn đề nạo phá thai:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc phá thai là một hành động trái luân lý, không thể chấp nhận. Cụ thể, theo Thiên chúa giáo, hôn nhân của vợ chồng là sự kết hợp của Thiên Chúa, và mục đích của hôn nhân Công giáo là phải duy trì gia đình. Nếu xảy ra việc phá thai, đứa trẻ không được chịu phép “rửa tội” - một truyền thống của Công giáo nhằm giúp đứa trẻ giải thoát tội Tổ tông.

Theo quan điểm trên, sự sốhg một khi đã được hình thành cần phải được bảo vệ tốỉ đa, nạo phá thai cấu thành tội giết trẻ sơ sinh và đây là một tội ác. Quyền sống của bào thai cần được bảo vệ tuyệt đốì, thậm chí đặt trước tính mạng của người mẹ. Trong mọi trường hợp, kể cả khi tính mạng người mẹ bị đe dọa, cũng không được phá thai.

Quan điểm thứ hai (ngược lại), cho rằng, bản thân bào thai là một phần thân thể của người mẹ và người mẹ có toàn quyền đối vối thân thể của mình. Theo quan điểm này, việc bảo vệ quyền của người mẹ cần đặt cao hơn và vì vậy, cần cho phép nạo phá thai (chấm dứt sự sống của thai nhi) theo yêu cầu của người mẹ.

Quan điểm thứ ba có tính dung hoà giữa hai quan điểm trên, trong đó cho rằng, có thể cho phép phá thai nếu có yêu cầu chính đáng của người mẹ, tùy thuộc vào tình trạng và giai đoạn phát triển của bào thai.

Hiện tại, các văn bản pháp luật quốc tế chưa quy định cụ thể khi nào thì một cá thể được công nhận là con người và được hưỏng những quyền của con người. Điều 3 UDHR ghi nhận: Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cắ nhân, trong đó quyền sống được hiểu bao gồm 3 nhóm quyền khác nhau: (1) Quyền và khả năng tồn tại, hay còn hiểu quyền được sống theo nghĩa sinh học và mỏ rộng hơn là quyển có được điều kiện sôhg bảo đảm; (2) Quyền tự do cá nhân và (3) Quyền được an toàn cá nhân. Trong quá trình soạn thảo Điểu 3 UDHR đã có cuộc tranh luận giữa đại diện Chilê cho rằng quyền sống cần được bảo vệ từ lúc được thụ thai và đại diện từ Đan Mạch khi nhấn mạnh thực tế là pháp luật nhiều quốc gia cho phép phá thai... Theo đó, đã có những mâu thuẫn nhất định trong các văn bản pháp lý quốc tế, khu vực và quốc gia về vấn để này.

Các văn bản pháp luật nhân quyền toàn cầu như UDHR, ICCPR, ICESCR,... không đưa ra khái niệm hay thời điểm xác định sự bắt đầu của một con người - đối tượng được hưởng những quyền theo luật nhân quyền quốc tế, và có xu hưởng không khẳng định quyền sống của thai nhi. Cụ thể, theo Điều 1 UDHR: Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền. Theo nhiều chuyên gia, từ “sinh ra” nêu ở Điều này được sử dụng một cách cố ý để loại bỏ trường hợp gây tranh cãi về quyền sống đối với thai nhi.

Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc (LW Commission on Human Rights), trong quá trình soạn thảo ICCPR cũng đã bác bỏ đề xuất rằng, quyền sống cần được bảo vệ đối với bào thai với lập luận rằng ICCPR cần bảo vệ cuộc sống của người mẹ khi có nguy cơ tử vong do mang thai. Quan điểm này sau đó cũng được thể hiện trong một số vụ việc do ủy ban Nhân quyền (Human Rights Committee) giải quyết. Cụ thể, trong vụ KL kiện Pêru, ủy ban cho rằng, việc Pêru cho phép phá thai không vi phạm ICCPR khi mà việc tiếp tục mang thai gây ra một nguy cơ đáng kể đến đời sống và sức khỏe tâm thần của người mẹ. Ủy ban cũng khẳng định lại quyết định này trong vụ LMR kiện Áchentina, với lập luận rằng việc từ chối nạo phá thai cho một nạn nhân bị hiếp dâm gây ra nỗi đau thể xác và tinh thần, là sự vi phạm quyền của người phụ nữ được tự do không bị tra tấn và đôì xử tàn nhẫn, vô nhân đạo, cũng như làm ảnh hưỏng đến quá trình điều trị và quyền riêng tư của ngưồi phụ nữ.

Ủy ban về xóa bỏ phân biệt đôi xử với phụ nữ (cơ quan giám sát thực thi Công ưóc loại bỏ mọi hình thức phân biệt đôì xử vối phụ nữ năm 1979 - CEDAW) cũng cho rằng, các nguyên tắc cơ bản về không phân biệt đô'i xử và bình đẳng với phụ nữ bao gồm yêu cầu các quyền của một phụ nữ mang thai phải được ưu tiên hơn so với việc bảo đảm sự sôhg của bào thai trước khi sinh. Trong vụ LC kiện Pêru, ủy ban cho rằng, Nhà nước Pêru đã vi phạm quyền của một người mẹ khi ưu tiên cho thai nhi hơn sức khỏe của người mẹ, thể hiện ỗ việc trì hoãn phẫu thuật cho người mẹ đó để bảo vệ thai nhi trong bối cảnh việc tiếp tục mang thai gây ra một nguy cơ đáng kể đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của người mẹ.

Tuy nhiên, cần thấy rằng, bên cạnh đó, một số văn bản pháp luật quốc tế cũng quy định về việc bảo vệ quyền của thai nhi. Cụ thể, phần mỏ đầu Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (CRC) đã ghi nhận: Ghi nhớ rằng “do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đờỉ’ như đã chỉ ra trong tuyên ngôn về quyền trẻ em. Theo quy định này, thai nhi cũng có quyền được bảo vệ và chăm sóc để duy trì sự sôhg và điều kiện sông. Hay như Công ước nhân quyền châu Mỹ năm 1969 (ACHR) ỏ Điều 4 đã quy định: Mỗi người đều có quyền được tôn trọng cuộc sống, quyền này được bảo vệ bỏi luật pháp và nhìn chung từ lúc thụ thai không ai bị tùy tiện tước đoạt quyền sống. Tuy nhiên, ủy ban Nhân quyền liên Mỹ, một trong hai cơ quan giám sát việc tuân thủ Công ước nhân quyền châu Mỹ, đã làm rõ rằng sự bảo vệ này không phải là tuyệt đối khi xảy ra sự việc trên thực tế (vụ Babyboy, 1973).

Trong một số án lệ của mình, Tòa án Nhân quyền châu Âu cũng đã khẳng định: không có quyền sống tuyệt đối vào đầu giai đoạn thụ thai và việc phá thai mà thực hiện theo các tiêu chuẩn y tế và xã hội là được phép trong chừng mực nhất định. Ví dụ, trong phán quyết về vụ X kiện Vương quốc Anh (năm 1980), Tòa cho rằng quyền sống về nguyên tắc không áp dụng với các bào thai người.

Nói tóm lại, pháp luật quốc tế hiện mới chỉ dừng ở mức độ bảo vệ mà chưa quy định quyền sống của thai nhi. Nguyên nhân chủ yếu là do việc thừa nhận quyền sống của thai nhi trong một số trường hợp có thể mâu thuẫn trực tiếp với quyền sống của người mẹ, bồi bào thai (thai nhi) nằm trong bụng và có sự kết nôì sự sông trực tiếp với sự sống của người mẹ.

2.2. Quan điểm một số quốc gia về quyền sống của thai nhi

Ở cấp độ quốc gia, Tòa án một số nước đã thể hiện rõ quan điểm không thừa nhận quyền của thai nhi trưốc khi sinh. Ví dụ, bình luận về quy định của Hiến pháp Xlôvakia: “Mọi người đểu có quyền được sông. Đời sống con người là xứng đáng bảo vệ”, Tòa án Hiến pháp nước này khẳng định rằng: khái niệm “tất cả mọi người” được hiểu là tất cả mọi người được sinh ra và kết thúc bằng cái chết”. Tòa án tối cao của Nêpan, Tòa án Hiến pháp Colombia, Tòa án tối cao Nam Phi, v.v. cũng có những tuyên bố tương tự, trong đó không thừa nhận quyền sống của thai nhi. Các Tòa án này cũng dựa trên lập luận là việc bảo vệ quyền sống của thai nhi không thể đi ngược lại quyền sống của phụ nữ, và việc công nhận quyền của thai nhi trước khi sinh có thể tạo ra một sự xung đột giữa các quyền của phụ nữ mang thai và thai nhi.

Bên cạnh đó, một số quốc gia công nhận giá trị của sự sống trước khi sinh. Ví dụ, Tòa án tối cao Côxta Rica vào năm 2000 đã cho rằng cuộc sống con người bắt đầu từ lúc thụ tinh, và rằng hợp tử, phôi và bào thai được hưởng các quyền con người, trong đó có quyền được sống. Tuy nhiên, Tòa án này cũng nhận thức rằng quyền sống của bào thai không phải là tuyệt đối và cho phép phá thai khi cần thiết nhằm bảo vệ các quyền của phụ nữ mang thai.

3. Vấn đề quyền sống của thai nhi theo pháp luật Việt Nam

3.1. Thực trạng pháp luật về quyền sống của thai nhi

Giống như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam chưa có quy định cụ thể về quyền sống của thai nhi. Về cơ bản, quyền sống của thai nhi được bảo vệ thông qua quyền sống và quyền được chăm sóc sức khỏe của người mẹ.

Tuy nhiên, các quy định pháp luật vể nạo phá thai ở Việt Nam có phần rộng mở hơn so với ở nhiều quốc gia khác. Việc nạo phá thai cơ bản được thực hiện theo yêu cầu của người mẹ ngoại trừ trường hợp xuất phát từ nguyên nhân lựa chọn giới tính. Cụ thể, theo Điều 44 Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989 thì:

  1. Phụ nữ được quyền nạo thai, phá thai theo nguyện vọng, được khám bệnh, chữa bệnh phụ khoa, được theo dõi sức khoẻ trong thời kỳ thai nghén, được phục vụ y tế khi sinh con tại các cơ sỏ y tế.
  2. Bộ Y tế có trách nhiệm củng cô', phát triển mạng lưới .chuyên khoa phụ sản và sơ sinh đến tận cơ sở để bảo đảm phục vụ y tế cho phụ nữ.
  3. Nghiêm cấm các cơ sở y tế và cá nhân làm các thủ thuật nạo thai, phá thai, tháo vòng tránh thai nếu không có giấy phép do Bộ Y tế hoặc Sở Y tế cấp.

Điều 7 Pháp lệnh dân số năm 2003 sửa đổi, bổ sung năm 2008 cũng nghiêm cấm các hành vi cản trở, cưỡng bức việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình và lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức.

Bên cạnh đó, còn nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết về thủ tục, cơ sở y tế được phép thực hiện các thủ thuật, điều kiện về vệ sinh, trang thiết bị y tế, trình độ chuyên môn... cho việc thực hiện nạo phá thai.

Điều 316 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định tội phá thai trái phép như sau:

1. Người nào thực hiện việc phá thai trái phép cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên.”.

Như vậy, có thể thấy, Việt Nam đã có một khuôn khổ pháp lý nền tảng về bảo vệ sự sống của thai nhi, tuy nhiên, thực tế cho thấy các quy định về vấn đề này của nước ta còn nhiều bất cập, cụ thể như sau:

- Pháp luật nhấn mạnh quyền được phá thai theo nguyện vọng, chỉ ngoại trừ một trường hợp là không được phá thai do lựa chọn giới tính, dẫn đến thủ tục nạo phá thai dễ dàng, tình trạng phá thai trở nên phổ biến.

- Mặc dù để ngăn chặn sự mất cân bằng giới tính, việc lựa chọn giới tính thai nhi bị pháp luật nghiêm cấm, tuy nhiên, quy định pháp luật về vấn đề này chưa đầy đủ, chặt chẽ khiến cho việc lựa chọn giới tính của thai nhi và phá thai dựa trên sự lựa chọn giới tính vẫn diễn ra. Thống kê đầu năm 2014 cho thấy tỷ lệ sinh là 114 trẻ trai so với 100 trẻ gái, thậm chí là cao hơn nhiều ỏ một số địa phương. Một khảo sát cho thấy 99% phụ nữ mang thai biết trước giới tính đứa con của mình, chủ yếu nhờ vào siêu âm. Dự thảo luật mới ước tính phạt 15 triệu đồng đối với những cặp cha mẹ muốn dùng phương pháp siêu âm để lựa chọn xem mình nên giữ hay nạo thai, 21 triệu đồng và thu hồi giấy phép hành nghề đốĩ với các bác sĩ và trợ lý nào muốn trợ giúp việc xác định giới tính thai nhi bằng cách này, tuy nhiên đến nay dự thảo luật này vẫn chưa được thông qua và không chắc chắn khi thông qua có thể thực thi hiệu quả hay không khi mà thực tế pháp luật đã cấm siêu âm lựa chọn giối tính thai nhi nhưng không hiệu quả.

- Hầu hết các văn bản dẫn chiếu liên quan tối chăm sóc sức khỏe sinh sản và nạo phá thai còn ít và chưa được luật hóa.

3.2. Một số kiến nghị

Thực trạng kể trên đặt ra yêu cầu cần sốm thay đổi nhận thức và sửa đổi, bổ sung hệ thôhg pháp luật liên quan đến vấn để quyền sống và bảo vệ thai nhi ở nước ta. Thay cho việc nhấn mạnh quyền nạo phá thai (cho phép nạo phá thai dễ dàng theo nguyện vọng), Nhà nước nên quy định nạo phá thai hạn chế, bổ sung các điều kiện và thắt chặt việc kiểm soát các cơ sở nạo phá thai.

Về điểu kiện nạo phá thai, pháp luật nên có các quy định khác nhau căn cứ vào từng giai đoạn phát triển cửa bào thai, cụ thể như sau:

Giai đoạn đầu, từ tuần 1 đến tuần 10: Đây là giai đoạn hình thành, phân chia và hoàn thiện cơ thể của bào thai, bào thai cơ bản mới ở dưới dạng phôi, “dạng sự sống tiềm tàng". Vì vậy, trong giai đoạn này, việc nạo phá thai ít gây ra vấn đề về tâm lý nhất (mặc cảm tước bỏ sự sống của một sinh linh), cũng như có ít nguy cơ nhất vối tính mạng, sức khỏe của người mẹ. Do đó, pháp luật có thể cho phép nạo phá thai theo nguyện vọng, tuy nhiên, vẫn cần đi kèm với điều kiện là phải tư vấn cho người mẹ biết tác động về mặt tâm lý và thể chất của hành vi mình đang lựa chọn để từ đó có thể đưa ra quyết định sáng suốt. Mặt khác, với những trường hợp người mẹ chưa thành niên, pháp luật cần quy định có sự đồng ý của người giám hộ. Về cơ sỏ y tế, có thể cho phép cả các cơ sỏ y tế tư nhân có đủ điều kiện kỹ thuật thực hiện nạo hút thai trong giai đoạn này.

Giai đoạn 2, từ tuần 10 đến tuần 24: Đây là giai đoạn phôi đã phát triển thành bào thai và có đủ bộ phận cơ thể. Sự phát triển đã ổn định và hình dạng của bào thai cơ bản đã như một con người hoàn chỉnh. Tuy nhiên, trong giai đoạn này bào thai vẫn chưa thể tồn tại một cách độc lập, nói cách khác, bào thai ỏ giai đoạn này vẫn còn ở dạng “con người tiềm năng”. Trong giai đoạn này, việc nạo phá thai đã gây ra những tác động lỗn về mặt tâm lý (mặc cảm rõ ràng về hành động tước bỏ sự sống của một sinh linh), và nguy cơ cao hơn về sức khỏe với người mẹ. Vì vậy, các nhà làm luật nên nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới là chỉ cho phép người mẹ nạo, phá thai khi đã tham khảo ý kiến từ người thân, người chồng. Ví dụ, theo kinh nghiệm của Hàn Quốc, khi nhận được đề nghị nạo phá thai, bệnh viện yêu cầu người mẹ và cả người thân dành thòi gian xem video về quá trình hình thành và phát triển kỳ diệu của một đứa trẻ, đồng thời, có sự tư vấn trực tiếp từ đó giúp họ có thể đưa ra quyết định đúng đắn về tương lai của bào thai, về cơ sở y tế, pháp luật cũng cần có những quy định chặt chẽ hơn về loại và điều kiện cần đáp ứng của các cơ sở y tế được phép nạo phá thai trong giai đoạn này.

Giai đoạn 3, từ tuần 24 trở đi: Từ tuần thứ 24 trở đi, bào thai đã phát triển hoàn chỉnh và hoàn toàn có khả năng sống ngay cả khi tách rời người mẹ, vì vậy có thể được thừa nhận như một “con người hoàn thiện” với đủ quyền cơ bản của một con người, trong đó có quyền sốhg. Trong giai đoạn này, việc nạo phá thai gây ra những tác động lón nhất về mặt tâm lý (mặc cảm lâu dài về hành động tước bỏ sự sống của một sinh linh), và nguy cơ rất cao về sức khỏe với người mẹ. Do đó, pháp luật cần cấm nạo phá thai trong giai đoạn này, chỉ ngoại trừ trường hợp thai nhi đã chết trong bụng mẹ hoặc phát hiện có những dị tật rất nghiêm trọng. Bên cạnh đó, pháp luật chỉ nên cho phép một số cơ sở y tế đáp ứng các điều kiện đặc biệt chặt chẽ được phép nạo, phá thai từ 24 tuần tuổi.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập