- 1.Quyền không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục
- 2.Quyền không bị bỏ tù chỉ vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng
- 3.Quyền được suy đoán vô tội
- 4.Quyền không bị áp dụng hồi tố
- 5.Quyền được TB lời buộc tội không chậm trễ
- 6.Quyền được bào chữa và được trợ giúp của luật sư ngay khi bị bắt hoặc bị giam giữ
- 7.Quyền không bị buộc phải chứng minh chống lại chính mình
- 8.Quyền được XX CB và CK bởi một toà án có thẩm quyền
- 9.Quyền được xét xử trong th ời gian h ợp lý và không bị trì hoãn
- 10.Quyền được kháng cáo
Tương ứng với nội dung các Điều 7, 8, 9, 10, 11, 14, 15 ICCPR, Điều 71 Hiến pháp 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm”. Điều 71 Hiến pháp 1992 cũng đồng thời quy định: “Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”.
Bổ sung cho Điều 71, Điều 72 Hiến pháp 1992 nêu rõ, không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Đoạn 2 Điều này quy định: “Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”.
Các quy định kể trên trong Hiến pháp 1992 được cụ thể hoá trong BLHS năm 1999, BLTTHS năm 2003, BLDS năm 2005 và nhiều văn bản pháp luật khác.
Theo Điều 6 BLTTHS năm 2003, không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Điều 7 Bộ luật này quy định: “Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản. Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản đều bị xử lý theo pháp luật..”. Cũng theo Điều này, người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật.
Như đã nêu ở trên, BLHS năm 1999 dành hẳn Chương XII quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Ngoài ra, Bộ luật này còn bao gồm một chương quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (Chương XXII, từ Điều 292 đến 314), trong đó bao gồm các tội: Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội (Điều 293); Tội ra bản án trái pháp luật (Điều 295); Tội ra quyết định trái pháp luật (Điều 296); Tội dùng nhục hình (Điều 298); Tội bức cung (Điều 299)...
1.Quyền không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục
Về quyền này, các Điều 71, 72 Hiến pháp 1992, Điều 32, 37 BLDS năm 2005, Điều 6, 7, 9 BLTTHS năm 2003 và các Chương XII, XXII BLHS năm 1999 (đã đề cập ở trên) cũng chính là nền tảng pháp lý để ngăn chặn và trừng trị những hành vi tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục.
Cụ thể hơn về vấn đề này, Điều 6 BLTTHS năm 2003 quy định: “Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình”. Trong Chương XXII BLHS năm 1999 (về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp), các Tội dùng nhục hình (Điều 298) và Tội bức cung (Điều 299) có ý nghĩa trực tiếp trong việc bảo đảm quyền không bị tra tấn và nhục hình trong hoạt động tố tụng. Ngoài ra, các văn bản pháp luật hiện hành về quản lý các cơ sở giam giữ cũng đều quy định nghiêm cấm mọi hành vi tra tấn, nhục hình.
2.Quyền không bị bỏ tù chỉ vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng
Xét về quan hệ hợp đồng, ở Việt Nam có các dạng hợp đồng chính là hợp đồng dân sự (bao gồm các hợp đồng dân sự thông dụng và hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất, được quy định trong Chương II BLDS năm 1995, phần thứ ba BLDS năm 2005), hợp đồng kinh tế (quy định trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, không còn hiệu lực), và hợp đồng lao động (quy định trong Điều 27 BLLĐ năm 1994 được sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007). Về trách nhiệm phát sinh từ vi phạm các dạng hợp đồng này, những văn bản pháp luật có liên quan chỉ quy định hình thức bồi thường thiệt hại tùy theo lỗi của bên vi phạm, cho dù mức độ thiệt hại như thế nào.
Văn bản pháp luật duy nhất quy định hệ thống các tội phạm hình sự và hình phạt ở Việt Nam là BLHS. BLHS năm 1999 có 344 điều nhưng không có điều nào quy định về trách nhiệm hình sự của một người không thể hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng. Tuy nhiên, giống như pháp luật của nhiều nước khác trên thế giới, theo pháp luật Việt Nam, trong trường hợp có hành vi lạm dụng tín nhiệm, lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của người khác trong giao kết và thực hiện hợp đồng thì người vi phạm sẽ bị xử lý về hình sự.
3.Quyền được suy đoán vô tội
Điều 72 Hiến pháp 1992 quy định: “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”. Nguyên tắc hiến định này được tái khẳng định trong Điều 9 BLTTHS năm 2003, trong đó nêu rõ: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”.
4.Quyền không bị áp dụng hồi tố
Cấm hồi tố cũng là một nguyên tắc quan trọng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, được quy định lần đầu tiên trong BLHS năm 1985 và được tái khẳng định trong tất cả các lần sửa đổi BLHS sau đó. Trong BLHS năm 1999, nguyên tắc này được quy định trong Điều 7, trong đó nêu rằng: “Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện”. Tuy nhiên, tương ứng với quy định tại Điều 15 ICCPR, pháp luật Việt Nam cho phép áp dụng hồi tố trong trường hợp việc đó có lợi cho người phạm tội.
5.Quyền được TB lời buộc tội không chậm trễ
Về khía cạnh thứ nhất, khoản 2 Điều 49 BLTTHS năm 2003 quy định, bị can có quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì và được giải thích về các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về khía cạnh thứ hai, Điều 133 Hiến pháp 1992 quy định: “Tòa án nhân dân bảo đảm cho công dân nước CHXHCN Việt Nam thuộc các dân tộc quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước Tòa án”. Quy định này được tái khẳng định trong Điều 10 Luật tổ chức Tòa án nhân dân (TAND) năm 2002. Điều 24 BLTTHS năm 2003 cụ thể hóa quy định này, trong đó nêu rõ, tiếng nói và chữ viết chính thức được sử dụng trong tố tụng hình sự là tiếng Việt, tuy nhiên, người không hiểu được tiếng Việt có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình và trong trường hợp đó, cơ quan tiến hành tố tụng phải cung cấp phiên dịch miễn phí. Quy định tương tự cũng được nêu trong một số văn bản pháp luật khác về tố tụng, cụ thể như trong Điều 20 BLTTDS năm 2004 và khoản 3 Điều 7 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 ( đã được sửa đổi, bổ sung một số điều vào các năm 1998 và 2004)...
6.Quyền được bào chữa và được trợ giúp của luật sư ngay khi bị bắt hoặc bị giam giữ
Liên quan đến quyền được bào chữa, Điều 132 Hi ến pháp 1992 khẳng định: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình”.
Cụ thể hóa Điều 132 của Hiến pháp, Điều 11 BLTTHS năm 2003 quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này”.
Về quyền được trợ giúp của luật sư, theo Điều 56 BLTTHS năm 2003, người bào ch ữa có thể là luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc bào chữa viên nhân dân. Theo Điều 57, những bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có m ức cao nhất là tử hình hoặc bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể ch ất thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc toà án phải yêu cầu đoàn luật sư cử người bào ch ữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban MTTQ Việt Nam hay các tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa. Tuy nhiên, kể cả trong các trường hợp này, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.
Mặc dù pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam không quy định thời hạn cụ thể cho việc chuẩn bị bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng về mặt thời điểm, theo Điều 58 BLTTHS năm 2003, người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp bắt người theo quy định tại các Điều 81 và 82 của Bộ luật này thì người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ. Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện KSND quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra. Điều 56 Bộ luật này cũng quy định: “Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lý do. Đối với trường hợp tạm giữ người thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, Cơ quan điều tra phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lý do”.
Liên quan đến trợ giúp pháp lý cho đương sự còn có các quy định trong Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 và Nghị định số 77/2008/N Đ-CP ngày 16-7-2008 của Chính phủ về tư vấn pháp luật. Hoạt động của luật sư hiện được điều chỉnh bởi Luật luật sư năm 2006 (có hiệu lực từ 01-7- 2007) và Nghị định số 28/2007/N Đ-CP ngày 26-02-2007, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật này. Căn cứ Nghị định số 131/2008/N Đ-CP ngày 31-12-2008 hướng dẫn thi hành các quy định của Luật luật s ư về t ổ ch ức xã h ội - nghề nghiệp c ủa luật sư, Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã ra đời (tháng 5 năm 2009) tạo điều kiện quan trọng để nghề luật sư phát triển, thông qua đó quyền bào chữa của bị can, bị cáo được bảo đảm tốt h ơn.
7.Quyền không bị buộc phải chứng minh chống lại chính mình
Liên quan đến v ấn đề này, Điều 10 BLTTHS năm 2003 quy định về nguyên tắc xác định sự thật của vụ án trong tố tụng hình sự, theo đó: “...Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”.
Bổ sung cho quy định của Điều 10, Điều 72 Bộ luật này quy định: “Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội”.
8.Quyền được XX CB và CK bởi một toà án có thẩm quyền
Về vị thế và tính chất của cơ quan xét xử, Điều 1 Luật tổ chức TAND năm 2002 quy định: TAND tối cao, các TAND địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là các cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam...Trong phạm vi chức năng của mình, Toà án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN; bảo vệ chế độ XHCN và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
Về hoạt động xét xử của Tòa án, theo pháp luật Việt Nam, tố tụng hình sự được thực hiện theo hai cấp xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia; khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán; Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Điều 16 BLTTHS năm 2003 quy định: “Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập chỉ tuân theo pháp luật”. Theo Điều 8 Luật tổ chức TAND năm 2002: “Toà án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật”. Điều 19 BLTTHS năm 2003 quy định cụ thể về việc bảo đảm quyền bình đẳng trước toà án, theo đó: “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện h ợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án”.
Liên quan đến khía cạnh xét xử công khai, Điều 7 Luật tổ chức TAND năm 2002 quy định: “Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của các đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ”. Điều 18 BLTTHS năm 2003 c ũng có quy định tương tự, theo đó: “Việc xét xử của Toà án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Toà án xét xử kín, nhưng phải tuyên án công khai”.
9.Quyền được xét xử trong th ời gian h ợp lý và không bị trì hoãn
Về vấn đề này, BLTTHS năm 2003 có những quy định cụ thể về thời hạn đưa một vụ án ra xét xử căn cứ vào tính chất của từng loại vụ việc. Theo Điều 176 B ộ luật này, thời hạn chuẩn bị xét xử là 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn th ời hạn chuẩn bị xét xử không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm tr ọng và t ội phạm nghiêm tr ọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm r ất nghiêm tr ọng và t ội phạm đặc biệt nghiêm tr ọng. Ngoài ra, theo quy định ở Điều 176 BLTTHS năm 2003, trong th ời hạn 15 ngày kể t ừ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì Toà án có thể mở phiên toà trong thời hạn 30 ngày. Đối với vụ án được trả lại để điều tra bổ sung thì trong th ời hạn 15 ngày sau khi nhận lại hồ sơ, thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
10.Quyền được kháng cáo
Về vấn đề này, như đã nêu ở trên, tố tụng hình sự ở Việt Nam được thực hiện theo hai cấp xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm). Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có thể bị kháng cáo và kháng nghị theo quy định của pháp luật. Điều 231 BLTTHS năm 2003 quy định: “Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất”.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)