1. Quyền của bên cầm cố
Điều 312 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về quyền của người cầm cố như sau:
Điều 312. Quyền của bên cầm cố
1. Yêu cầu bên nhận cầm cố chấm dứt việc sử dụng tài sản cầm cố trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 314 của Bộ luật này nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.
2. Yêu cầu bên nhận cầm cố trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt.
3. Yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố.
4. Được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố nếu được bên nhận cầm cố đồng ý hoặc theo quy định của luật.
Như vậy, trong trường hợp các bên có thỏa thuận bên nhận cầm cố được thuê, cho mượn tài sản cầm cố mà người thuê, người mượn vi phạm nghĩa vụ sử dụng tài sản và có nguy cơ hư hỏng, giảm giá trị hoặc mất mát thì bên cầm cố có quyền yêu cầu bên nhận cầm cố phải đình chỉ thực hiện hợp đồng và thu hồi tài sản để tránh thiệt hại xảy ra. Nếu bên nhận cầm cố không chấm dứt hợp đồng mà tài sản bị thiệt hại thì bên nhận cầm cố phải bồi thường.
Thông thường, đến hạn thực hiện nghĩa vụ, bên cầm cố thực hiện xong nghĩa vụ thì nghĩa vụ chấm dứt. Ngoài ra, nghĩa vụ có thể chấm dứt theo các căn cứ do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định ( miễn, bù trừ nghĩa vụ...), trường hợp này bên cầm cố có quyền yêu cầu bên nhận cầm cố hoàn trả tài sản trong tình trạng ban đầu chiếu hữu.
Trong thời hạn cầm cố, bên nhận cầm cố làm hư hỏng, mất tài sản cầm cố thì bên cầm cố có quyền yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại hoặc các bên có thể thỏa thuận bù trừ nghĩa vụ nếu các nghĩa vụ đủ điều kiện bù trừ theo luật quy định.
Thời hạn cầm cố phụ thuộc vào thời hạn nghĩa vụ được bảo đảm, khi nghĩa vụ được bảo đảm chưa thực hiện thì biện pháp cầm cố có hiệu lực, tuy nhiên trong thời hạn cầm cố bên cầm cố có nhu cầu bán, cho tặng tài sản cầm cố thì có thể thỏa thuận với bên nhận cầm cố về việc định đoạt tài sản. Nếu bên nhận cầm cố đồng ý thì nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm cố trở thành nghĩa vụ không có bảo đảm, hoặc các bên thỏa thuận thay đổi biện pháp bảo đảm, thay đổi tài sản bảo đảm.
2. Nghĩa vụ của bên cầm cố
Quyền luôn đi liền với nghĩa vụ. Thep quy định tại Điều 311 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 311. Nghĩa vụ của bên cầm cố
1. Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận.
2. Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền hủy hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố.
3. Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Sau khi các bên thỏa thuận xác lập biện pháp cầm cố, thì thỏa thuận đó có hiệu lực pháp luật, cho nên bên cầm cố phải chuyển giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố giữ. Thông thường tài sản cầm cố là vật đặc định, cho nên bên cầm cố phải gia đúng vật đó. Nếu tài sản cầm cố gồm nhiều vật thì phải giao đầy đủ và đúng các vật đã thỏa thuận khi xác lập giao dịch về cầm cố.
Trường hợp người thứ ba có quyền đối với tài sản cầm cố như người nhận thế chấp, người bán trả chậm... thì bên cầm cố phải báo cho bên nhận cầm cố biết về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố để bên nhận cầm cố quyết định có xác lập giao dịch cầm cố hay không. Nếu không thông báo, thì bên nhận cầm cố có quyền hủy bỏ giao dịch cầm cố và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu có. Ngược lại, bên nhận cầm cố không hủy bỏ giao dịch mà tiếp tục thực hiện giao dịch cầm cố thì phải chịu sự bất lợi khi có tranh chấp về tài sản cầm cố.
Đối với những tài sản cần phải áp dụng biện pháp bảo quản riêng thì phải cần chi phí bảo quản, cho nên bên cầm cố phải thanh toán chi phí cần thiết đó cho bên nhận cầm cố.
3. Quyền của bên nhận cầm cố
Bộ luật dân sự 2015 không chỉ quy định về quyền và nghĩa vụ của bên cầm cố mà còn quy định cả về quyền và nghĩa vụ của bên nhận cầm cố. Tại Điều 314 Bộ luật dân sự 2015 thì người nhận cầm cố có những quyền sau đây:
Điều 314. Quyền của bên nhận cầm cố
1. Yêu cầu người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản đó.
2. Xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
3. Được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thỏa thuận.
4. Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản cho bên cầm cố.
Tài sản cầm cố do bên nhận cầm cố giữ, tuy nhiên có thể tài sản bị người khác chiếm hữu sử dụng trái phép như trộm cắp, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt hoặc bên nhận cầm cố cho mượn cho thuê, những trường hợp này bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu người chiếm hữu bất hợp pháp phải giao lại tài sản cầm cố cho mình để tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của bên nhận cầm cố là giữ gìn bảo quản tốt tài sản cầm cố.
Trường hợp bên cầm cố vi phạm nghĩa vụ hoặc không thực hiện đúng nghĩa nghĩa vụ thì bên nhận cầm cố sẽ xử lý tài sản cầm cố để thanh toán nghĩa vụ. Nếu giá trị tài sản cầm cố nhỏ hơn nghĩa vụ thì bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu bên cầm cố dùng tài sản khác để thanh toàn nghĩa vụ. Ngược lại nếu giá trị tài sản cầm cố lớn hơn giá trị nghĩa vụ thì bên nhận cầm cố phải tả lại phần giá trị vượt quá đó cho bên cầm cố.
Các bên trong cầm cố có quyền thỏa thuận bên cầm cố cho thuê cho mượn, tài sản cẩm cố thì bên nhận cầm cố được phép cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố và phải tự chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu tài sản bị hư hỏng, mất mát. Nếu bên nhận cầm cổ cho thuê, thì tiền cho thuê phải trả lại cho bên cầm cố hoặc được khấu trừ vào giá trị nghĩa vụ.
Đối với những tài sản cầm phải bỏ chi phí để bảo quản thì bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu bên cầm cố thanh toán chi phí bảo quản đó. Trường họp tài sản cầm cố bị xử lý thì chi phí bảo quản được thanh toán từ xử lý tài sản.
4. Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố
Theo Điều 313 Bộ luật dân sự 2015 thì bên nhận cầm cố có các nghĩa vụ sau:
Bên nhận cầm cố giữ tài sản cầm cố cho nên có nghĩa vụ giữ gìn, bảo quản tài sản như của chính mình. Mỗi loại tài sản có phương thức bảo quản, cất giữ riêng, thậm chí pháp luật quy định về biện pháp quản lý tài sản, cho nên bên nhận cầm cố phải tuân theo các phương thức quản lý, bảo quản tài sản như thỏa thuận hoặc theo luật quy định.
Bên nhận cầm cố không được định đoạt tài sản cầm cố như bán, cho tăng, đổi hoặc cầm cố cho người thứ ba. Trường hợp người nhận cầm cố bán, đổi, cầm cố cho người thứ ba mà tài sản bị bán để thanh toán nghĩa vụ thì người nhận cầm cố phải bồi thường thiệt hại. Người cầm cố có quyền đòi lại tài sản do người thứ ba chiếm hữu theo Điều 166 Bộ luật dân sự 2015:
“Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”.
Bên nhận cầm cổ không được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Vì mặc dù tài sản cầm cố được chuyển giao cho bên nhận cầm cố nắm giữ nhưng tài sản cầm cố vẫn thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố, do đó, chỉ có bên cầm cố mới có quyền định đoạt tài sản cầm cố. Mặt khác, mục đích của việc nắm giữ tài sản của bên nhận cầm cố là để bảo đảm bên có nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm cố sẽ thực hiện nghĩa vụ đối với mình, do đó, bên nhận cầm cố không được khai thác và hưởng lợi từ việc khai thác tài sản cầm cố nếu không có sự đồng ý của bên cầm cố.
Trong thời hạn cầm cố, bên nhận cầm cố không được sử dụng tài sản không chuyển giao tài sản cho người khác giữ hoặc sử dụng trừ trường hợp có thỏa thuận khác với bên cầm cố. Nếu vi phạm nghĩa vụ giữ tài sản mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên cầm cố.
Khi nghĩa vụ được bảo đảm chấm dứt do bên cầm cố thực hiện xong hoặc chấm dứt theo các căn cứ khác thì bên nhận cầm cố phải trả lại tài sản và các giấy tờ liên quan đến tài sản đã nhận, nếu làm hư hỏng giảm giá trị hoặc mất mát tài sản thì phải bồi thường.
5. Bên cầm cố có được bán tài sản đang cầm cố không?
Theo quy định tại Điều 312 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 312. Quyền của bên cầm cố
....
4. Được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố nếu được bên nhận cầm cố đồng ý hoặc theo quy định của luật.
Như vậy, người cầm cố có thể bán tài sản cầm cố nếu được người nhận cầm cố đồng ý hoặc pháp luật có quy định.
Như trên đã phân tích về quyền của bên cầm cố thì thời hạn cầm cố phụ thuộc vào thời hạn nghĩa vụ được bảo đảm, khi nghĩa vụ được bảo đảm chưa thực hiện thì biện pháp cầm cố có hiệu lực, tuy nhiên trong thời hạn cầm cố bên cầm cố có nhu cầu bán, cho tặng tài sản cầm cố thì có thể thỏa thuận với bên nhận cầm cố về việc định đoạt tài sản. Nếu bên nhận cầm cố đồng ý thì nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp cầm cố trở thành nghĩa vụ không có bảo đảm, hoặc các bên thỏa thuận thay đổi biện pháp bảo đảm, thay đổi tài sản bảo đảm.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Trân trọng./.