1.Trường hợp bên bảo lãnh cam kết thực hiện công việc thay cho bên được bảo lãnh 

Trường hợp bên bảo lãnh cam kết thực hiện công việc thay cho bên được bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với nghĩa vụ được bảo lãnh.

Điểm thay đổi quan trọng nhất của Bộ luật Dân sự năm 2015 khi quy định về tín chấp là ngoài việc bảo đảm vay tiền để “sản xuất, kinh doanh” thì còn thêm để “tiêu dùng”, thay vì để “làm dịch vụ” (cũng là kinh doanh) theo quy định của hai Bộ luật Dân sự năm 1995 và 2005 trước kia.

Trường hợp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tín chấp thì tổ chức ỏ xã, phường, thị trấn của Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc Công đoàn cơ sở là bên bảo đảm bằng tín chấp, trừ trường hợp Điều lệ của tổ chức này quy định khác (căn cứ Điều 372 về “Bảo đảm bằng tín chấp của tổ chức chính trị - xã hội”, Bộ luật Dân sự nãm 2005 (đã hết hiệu lực) và Điều 45 về “Bên bảo đảm bằng tín chấp”, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ “Quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”).

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định khá chặt chẽ, cụ thể về việc “thỏa thuận bảo đảm bằng tín chấp phải cụ thể về số- tiền, mục đích, thời hạn vay, lãi suất” cũng như quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của tổ chức chính trị - xã hội. Tuy nhiên, biện pháp bảo đảm nghĩa vụ bằng biện pháp tín chấp của các tổ chức chính trị - xã hội chỉ có ý nghĩa về mặt chính trị, xã hội, tinh thần, mà hoàn toàn vô nghĩa về trách nhiệm tài sản và giá trị pháp lý trên thực tế. Các tổ chức đoàn thể có trách nhiệm bảo đảm cho thành viên của mình vay vốn, nhưng lại hoàn toàn không gắn liền với trách nhiệm dân sự, không phải chịu bất kỳ trách nhiệm cụ thể nào về tài sản đối với cam kết bảo đảm của mình, không phải chịu nghĩa vụ trả nợ thay cho ngưòi vay nếu không trả được nợ, tức là trách nhiệm pháp lý là bằng không.

Việc bảo đảm bằng tín chấp thực chất là không có sự bảo đảm nào về tài sản, mà chỉ là một dạng bảo đảm gắn với cho vay đặc thù theo chính sách của Nhà nưốc. Vì vậy, mặc dù luật cho phép, nhưng nó chỉ là nhiệm vụ của các Ngân hàng chính sách hoặc mỏ rộng nữa là của các tổ chức tín dụng có vốn chi phối của Nhà nước, chứ không bắt buộc áp dụng và không có ý nghĩa đối với các tổ chức tín dụng khác.

2.Phân biệt giữa cho vay tín chấp với việc cho vay không có tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh

Cần có sự phân biệt giữa cho vay tín chấp với việc cho vay không có tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh. Trường hợp cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, khác hẳn với việc cho vay tín chấp. Khái niệm cho vay tín chấp vẫn được sử dụng phổ biến trên thực tế lâu nay, không phải là hình thức cho vay tín chấp theo quy định của ba Bộ luật Dân sự, mà là cho vay không có tài sản bảo đảm trong các trường hợp khác.

Tuy nhiên, dù là cho vay không có tài sản bảo đảm đi chăng nữa thì các tổ chức tín dụng cũng phải dựa trên một sự bảo đảm nhất định nào đó về khả năng tài chính để thu hồi vốn.

Ngoài ra, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bỏ chủ thể giao dịch dân sự là “hộ gia đình” nhưng trong điều luật trên lại vẫn quy định chủ thể “hộ gia đình nghèo”, thay vì phải quy định đúng là “các thành viên của hộ gia đình nghèo”. Do đó, việc bảo đảm bằng tín chấp cho “hộ gia đình nghèo” vay vốn trong trường hợp này cần được hiểu là bảo đảm cho các thành viên của hộ gia đình nghèo vay vốn.

3.Quyền và nghĩa vụ của các bên trong tín chấp

Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong tín chấp như sau (Điều 46 về “Quyền, nghĩa vụ của các bên trong tín chấp”, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ “Quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”):

Thứ nhất, bên bảo đảm bằng tín chấp có quyền, nghĩa vụ sau đây:

Chủ động hoặc phối hợp chặt chẽ với tổ chức tín dụng cho vay để giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện cho người vay; giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả; đôn đốc trả nợ đầy đủ, đúng hạn;

Xác nhận theo yêu cầu của tổ chức tín dụng cho vay về điều kiện, hoàn cảnh của người vay khi vay vô'n;

Có quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định.

Thứ hai, tổ chức tín dụng cho vay có quyền, nghĩa vụ sau đây:

Yêu cầu bên bảo đảm bằng tín chấp phôi hợp trong việc kiểm tra sử dụng vốh vay và đôn đốc trả nợ;

Phốỉ hợp với bên bảo đảm bằng tín chấp trong việc cho vay và thu hồi nợ;

Có quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định.

Thứ ba, người vay có quyền, nghĩa vụ sau đây:

Sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh doanh, phục vụ nhu cầu đời sống hoặc tiêu dùng phù hợp với mục đích vay;

Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức tín dụng cho vay và bên bảo đảm bằng tín chấp kiểm tra việc sử dụng vấn vay;

Trả nợ đầy đủ gốc và lãi vay (nếu có) đúng hạn cho tổ chức tín dụng cho vay;

Có quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định.

4. Những điều ít biết về vay tiêu dùng tín chấp

Vay ở những tổ chức tín dụng được nhà nước cấp phép giúp khách hàng có thể an tâm tài chính và đẩy lùi “tín dụng đen”.

Vay tiêu dùng tín chấp là hình thức vay không cần tài sản đảm bảo, khách hàng chỉ cần chứng minh pháp nhân và thu nhập để được vay vốn từ ngân hàng hoặc các công ty, tổ chức tài chính. Một khoản vay sẽ được phê duyệt dựa vào uy tín và mức thu nhập của người vay, lịch sử tín dụng của họ.

Điều khiến khách hàng an tâm khi tìm đến các tổ chức, công ty cho vay tín chấp chính là các khoản vay của họ đều được giám sát bởi cơ quan quản lý nhà nước, mức lãi suất công khai minh bạch theo pháp luật Việt Nam và mọi điều khoản, quyền lợi đều được thể hiện rõ trong hợp đồng.

Khách hàng đăng ký vay tiêu dùng tín chấp thường giải quyết nhu cầu mua sắm, tiêu dùng, giải trí của bản thân và gia đình (mua xe, sửa nhà, đi du lịch, cưới hỏi...). Do đó, các khoản vay theo hình thức tín chấp thường từ vài chục đến tối đa 100 triệu đồng. Thời gian vay tùy theo quy định của ngân hàng và các tổ chức tín dụng, đa số là từ 12 tháng đến 48 tháng.

Căn cứ Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về lãi suất cho vay như sau:

 Lãi suất cho vay

1. Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định về lãi suất cho vay tối đa tại khoản 2 Điều này.

2. Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam nhưng không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định trong từng thời kỳ nhằm đáp ứng một số nhu cầu vốn:

a) Phục vụ lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn theo quy định của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn;

b) Thực hiện phương án kinh doanh hàng xuất khẩu theo quy định tại Luật thương mại và các văn bản hướng dẫn Luật thương mại;

c) Phục vụ kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa;

d) Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ theo quy định của Chính phủ về phát triển công nghiệp hỗ trợ;

đ) Phục vụ kinh doanh của doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định tại Luật công nghệ cao và các văn bản hướng dẫn Luật công nghệ cao.

3. Nội dung thỏa thuận về lãi suất cho vay bao gồm mức lãi suất cho vay và phương pháp tính lãi đối với khoản vay. Trường hợp mức lãi suất cho vay không quy đổi theo tỷ lệ %/năm và/hoặc không áp dụng phương pháp tính lãi theo số dư nợ cho vay thực tế, thời gian duy trì số dư nợ gốc thực tế đó, thì trong thỏa thuận cho vay phải có nội dung về mức lãi suất quy đổi theo tỷ lệ %/năm (một năm là ba trăm sáu mươi lăm ngày) tính theo số dư nợ cho vay thực tế và thời gian duy trì số dư nợ cho vay thực tế đó.

4. Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả;

b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả;

c) Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.

5. Trường hợp áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh, tổ chức tín dụng và khách hàng phải thỏa thuận nguyên tắc và các yếu tố để xác định lãi suất điều chỉnh, thời điểm điều chỉnh lãi suất cho vay. Trường hợp căn cứ các yếu tố để xác định lãi suất điều chỉnh dẫn đến có nhiều mức lãi suất cho vay khác, thì tổ chức tín dụng áp dụng mức lãi suất cho vay thấp nhất.

5. Vay ở những tổ chức tín dụng được cấp phép

Do đặc điểm vay không cần tài sản đảm bảo và thị trường nhiễu loạn thông tin, đặc biệt là thời gian gần đây khi nhiều tổ chức "tín dụng đen" xuất hiện với lãi suất cho vay "cắt cổ", không ít khách hàng có tâm lý e ngại với vay tín chấp. Vì vậy, việc hiểu rõ và làm theo thông điệp "vay văn minh" (vay ở những tổ chức tín dụng được nhà nước cấp phép) cần được đẩy mạnh và phát huy.

Nếu lựa chọn vay tín chấp văn minh, người dân có thể dễ dàng tiếp cận khoản vay có giá trị linh hoạt, lãi suất minh bạch, thủ tục đơn giản, rõ ràng, không yêu cầu thế chấp tài sản. Đây cũng là điều kiện phù hợp với nhiều trường hợp khách hàng không có tài sản sở hữu.

Lợi ích của hoạt động cho vay tiêu dùng tín chấp

Đối với các công ty tài chính uy tín, vai trò điều tiết thị trường, ổn định tài chính cũng không thua kém các ngân hàng. Đặc biệt tại các địa bàn khu vực ngoại thành, nơi xa trung tâm, các công ty tài chính luôn đáp ứng khoản vay vốn nhỏ lẻ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của người dân.

Các tổ chức này giúp người dân tăng cơ hội tiếp cận nguồn vốn vay hợp pháp, đặc biệt đối với khách hàng dưới chuẩn không đủ điều kiện vay vốn tại các ngân hàng thương mại truyền thống, giúp đẩy lùi "tín dụng đen" trong đời sống xã hội, mang lại lợi ích và hạnh phúc cho mỗi gia đình, gia tăng công bằng xã hội qua các giải pháp tài chính chính thống.

Hoạt động cho vay tiêu dùng còn gia tăng hiểu biết tài chính cho các nhóm khách hàng mới, đó là các tầng lớp dân cư ít tiếp cận các dịch vụ ngân hàng. Từ đó, giúp họ quản lý tốt hơn các giao dịch tài chính cá nhân, cũng như tạo nền tảng để họ có thể sẵn sàng sử dụng các dịch vụ tài chính khác bao gồm các dịch vụ ngân hàng truyền thống.

Ngoài ra, cho vay tiêu dùng sẽ kích cầu tiêu dùng, từ đó góp phần làm tăng sản lượng và tạo thêm các cơ hội việc làm, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của quốc gia.

Hiện nay, khi các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này vẫn không ngừng nỗ lực để quản lý hoạt động cho vay tiêu dùng với hai mục tiêu chính là bảo vệ người đi vay và thúc đẩy thị trường cho vay tiêu dùng phát triển lành mạnh, bản thân mỗi người dân cũng cần tự nâng cao nhận thức về vay tiêu dùng tín chấp an toàn để bảo vệ chính mình cũng như người thân.