Hơn nữa, để bảo đảm việc giải quyết đúng đắn các vụ việc dân sự, các đương sự phải có quyền, nghĩạ vụ tố tụng ngang nhau; được tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác thực hiện để bảo vệ quyền lợi của mình. Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để các đương sự thực hiện được các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ. (Xem: Khoản 6 Điều 69 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015)
Các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự thể hiện trong các lĩnh vực như sử dụng các biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trước toà án; quyết định quyền, lợi ích của mình trong tố tụng dân sự; thi hành bản án, quyết định của toà án, thực hiện các yêu cầu của toà án; khiếu nại, tố cáo các hành vi trái pháp luật của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tố tụng.
Việc thực hiện được mỗi quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự có ý nghĩa nhất định đối với quá trình giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự. Do vậy, trong quá trình tố tụng các đương sự phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình một cách có thiện chí và đúng theo quy định của pháp luật. Để bảo đảm cho các đương sự thực hiện đúng được các quyền nghĩa vụ tố tụng của họ pháp luật quy định các biện pháp bảo đảm cần thiết như phạt tiền người vi phạm, đình chỉ việc giải quyết yêu cầu của đương sự, nộp tiền để thực hiện biện pháp bảo đảm khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ...
Hiện nay, các quyền, nghĩa vụ tố tụng của các đương sự trong vụ án dân sự đã được quy định khá đầy đủ tại các điều từ Điều 70 đến Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo các quy định này, đương sự có các quyền, nghĩa vụ như giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu, cung cấp chứng cử, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; đề nghị toà án yêu cầu đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ; yêu cầu cá nhân, tổ chức đang lưu giữ, quản lý, bảo quản chứng cứ cung cấp cho mình để giao nộp cho toà án; đề nghị toà án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án trong trường hợp tự mình không thể thực hiện được; đề nghị toà ản triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản; được biết, ghi chép và sao chụp các tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do toà án thu thập; đề nghị toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hoà giải, tham gia phiên toà; nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyên, nghĩa vụ của mình; tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình; có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ, trừ tài liệu, chứng cứ mà đương sự khác đã có, tài liệu, chứng cứ; tôn trọng toà án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà; nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật; cung cấp đầy đủ, chính xác địa chỉ nơi cư trú, trụ sở của mình; sử dụng quyền của mình một cách thiện chí, không được lạm dụng để gây cản trở hoạt động tố tụng của toà án, đương sự khác ...
Ngoài ra, Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 còn quy định cả việc kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong trường hợp đương sự là cá nhân chết, đương sự là tổ chức phải chấm dứt hoạt động hoặc bị giải thể ... Các quy định về quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã tương đối đầy đủ và cụ thể. Đặc biệt, đã khắc phục được hạn chế của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 là không có quy định về quyền, nghĩa vụ tố tụng của các đương sự trong việc dân sự.
Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tổ tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong tố tụng dân sự cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê