- 1. Những vấn đề lý luận về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
- 1.1. Khái niệm
- 1.2. Đặc điểm người đại diện của đương sự
- 1.3. Vai trò người đại diện của đương sự
- 1.4. Phân loại đại diện đương sự
- 2. Người đại diện của đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự hiện hành
- 2.1. Các quy định chung về người đại diện của đương sự
- 2.2. Người đại diện cho đương sự theo pháp luật
- 2.3. Người đại diện của đương sự theo ủy quyền
- 2.4. Người đại diện của đương sự do Tòa án chỉ định
- 3. Đánh giá các quy định và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành
- 3.1 Đánh giá
- 3.2 Một số kiến nghị
1. Những vấn đề lý luận về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự
1.1. Khái niệm
Quan hệ đại diện là một trong những quan hệ cơ bản của pháp luật dân sự. Đại diện là một quan hệ pháp lí giữa ba chủ thể gồm các quan hệ : quan hệ giữa người đại diện với người được đại diện, quan hệ giữa người đại diện với người thứ ba và quan hệ giữa người thứ ba với người được đại diện. Vậy đại diện là gì? Đại diện trong tố tụng dân sự cần được nhận thức như thế nào?
Trước hết, theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì đại diện là “việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”. Điều này có nghĩa đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (người đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch trong phạm vi đại diện làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự của người khác (người được đại diện). Mà pháp luật tố tụng dân sự luôn gắn bó chặt chẽ với pháp luật dân sự do mục đích của pháp luật tố tụng dân sự là nhằm giải quyết các vụ việc dân sự và thi hành án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của Nhà nước. Vì vậy, quan hệ đại diện trong tố tụng dân sự mang bản chất của quan hệ đại diện trong pháp luật dân sự nói chung, cũng là việc người được đại diện không trực tiếp tham gia giao dịch để phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của mình mà thông qua người đại diện. Tuy nhiên, do chủ thể đặc trưng của tố tụng dân sự không chỉ có hai bên trong quan hệ quyền và nghĩa vụ mà còn có tòa án, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự (chủ thể công) nên đại diện trong tố tụng dân có mục đích cụ thể hơn là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước tòa án.
Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 có quy định về người đại diện như sau: “Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân sự.”
Như vậy, có thể kết luận rằng người đại diện của đương sự là người tham gia tố tụng thay mặt đương sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự trước tòa án.
1.2. Đặc điểm người đại diện của đương sự
Thứ nhất, người đại diện của đương sự là cá nhân hoặc pháp nhân có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự.
Thứ hai, người đại diện là người nhân danh, thay mặt đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự.
Thứ ba, để đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc được khách quan trong một số trường hợp hạn chế đại diện ủy quyền. đó là đối với những cán bộ, công chức các ngành tòa án, kiểm sat, công an, pháp luật không cho phép họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo ủy quyền bởi việc họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. từ đó, công tác xét xử và đưa ra phán quyết của tòa án có thể không được chính xác, khách quan.
1.3. Vai trò người đại diện của đương sự
Người đại diện của đương sự tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc dân sự có một ý nghĩa rất lớn: Thứ nhất, đối với đương sự, việc tham gia tố tụng của người đại diện của đương sự có tác dụng lớn đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, nhất là trong trường hợp họ là người bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi tố tụng dân sự; Thứ hai, trong mối quan hệ với cơ quan tố tụng, sự phối hợp giữa người đại diện với cơ quan tố tụng góp phần nhất định việc làm sáng tỏ sự thật của vụ việc dân sự.
1.4. Phân loại đại diện đương sự
Hiện nay có nhiều quan điểm về phân loại người đại diện của đương sự trrong pháp luật tố tụng dân sự. Có thể phân loại người đại diện của đương sự theo 4 cách phân loại sau: (i) dựa vào cơ sở pháp lí tham gia của người đại diện (người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền, người đại diện do tòa án chỉ định); (ii) dựa vào vị trí tố tụng của người được đại diện (người đại diện của nguyên đơn / người yêu cầu, người đại diện của bị đơn, người đại diện của người có quyền và nghĩa vụ liên quan); (iii) dựa vào loại chủ thể được đại diện (người đại diện của cá nhân, người đại diện của cơ quan, tổ chức); (iv) dựa vào ý chí của chủ thể (người đại diện theo ủy quyền, người đại diện theo pháp luật).
Trong những cách phân loại trên, nhóm lựa chọn cách phân loại thứ nhất, phân loại dựa trên cơ sở pháp lí tham gia của người đại diện sẽ bao gồm người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền và người đại diện do tòa án chỉ định, và sẽ phân tích rõ hơn trong phần tiếp theo.
2. Người đại diện của đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự hiện hành
2.1. Các quy định chung về người đại diện của đương sự
Thứ nhất, người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Theo quy định của BLTTDS năm 2015, người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Họ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự. So với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011) thì đây là quy định mới. Trong BLTTDS năm 2004 không có quy định người đại diện là cá nhân hoặc pháp nhân cũng như không dẫn chiếu đến điều luật tương ứng gây ra việc khó xác định trách nhiệm của người đại diện là pháp nhân. Bởi mặc dù người đại diện là pháp nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì cũng vẫn phải thực hiện quan hệ đại diện thông qua cá nhân thuộc pháp nhân đó. Vậy chỉ có đại diện của pháp nhân hay bất kì thành viên nào của pháp nhân cũng có quyền được thực hiện quan hệ đại diện cho đương sự? Việc quy định dẫn chiếu đến Bộ luật dân sự của BLTTDS 2015 đã giải quyết vướng mắc này bởi theo quy định của Bộ luật dân sự, chỉ có đại diện của pháp nhân mới được thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của pháp nhân trong đó có quan hệ đại diện cho đương sự.
Thứ hai, điều kiện về năng lực chủ thể của người đại diện. Cá nhân, pháp nhân tham gia quan hệ đại diện cho đương sự là tham gia một quan hệ pháp luật tố tụng dân sự dưới danh nghĩa đương sự nên phải đảm bảo các điều kiện về năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự.
Đối với người đại diện là cá nhân, năng lực chủ thể cá nhân cần phải đảm bảo là năng lực được yêu cầu dành cho đương sự quy định tại Điều 69 BLTTDS 2015 với những trường hợp cụ thể và giống với quy định về năng lực chủ thể trong Bộ luật dân sự 2015. Đối với trường hợp người đại diện là pháp nhân thì pháp nhân đó cũng phải đảm bảo năng lực đương sự trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự theo Khoản 7 Điều 69 BLTTDS 2015.
Thứ ba, các trường trường hợp không được làm người đại diện. Để đảm bảo tính khách quan cho quá trình tìm ra sự thật, giải quyết vụ việc dân sự. Theo đó, tại Điều 87 BLTTDS 2015 đã liệt kê một số trường hợp không được đại diện trong cả ba loại đại diện là đại diện theo pháp luật, đại diện theo ủy quyền và đại diện do tòa án chỉ định, ví dụ như: cán bộ, công chức trong các cơ quan, tòa án nhân dân, viện kiểm sát,…
2.2. Người đại diện cho đương sự theo pháp luật
Thứ nhất, về khái niệm: Người đại diện theo pháp luật là người do pháp luật hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, để đại diện cho một cá nhân hay tổ chức nào đó thực hiện (xác lập) các giao dịch hay hành vi dân sự, hành chính… (như ký hợp đồng, tham dự phiên tòa…).
Thứ hai, về căn cứ xác lập quyền đại diện: Quyền đại diện được xác lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, về phạm vi đại diện. Phạm vi đại diện là giới hạn quyền, nghĩa vụ, theo đó người đại diện nhân danh người được đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với người thứ ba. Theo quy định tại Điều 141 Bộ luật dân sự năm 2015 về phạm vi đại diện, có thể thấy, pháp luật cho phép người đại diện có quyền chủ động tối đa trong việc lựa chọn, xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến người được đại diện nhưng phải xuất phát từ lợi ích của người được đại diện. Trong trường hợp đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, chính vì người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn trực tiếp tham gia giao kết hợp đồng nên người đại diện chỉ đóng vai trò giám sát, đồng ý hay không đồng ý cho xác lập giao dịch dân sự.
Khi thực hiện hành vi đại diện, người đại diện phải thông báo cho người thứ ba biết là xác lập thực hiện giao dịch dân sự với tư cách là người đại diện. Người đại diện không được thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, vì trong trương hợp này có thể gây thiệt hại đến lợi ích của người được đại diện.
Thứ tư, về thời hạn đại diện: Thời hại đại diện được xác định theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.
Thứ năm, về các trường hợp người đại diện theo pháp luật chấm dứt đại diện: Căn cứ Điều 89 BLTTDS 2015 và khoản 4 Điều 140 Bộ luật dân sự 2015, đại diện theo pháp luật chấm dứt trong trường hợp sau đây: (a) Người được đại diện là cá nhân đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục; (b) Người được đại diện là cá nhân chết; (c) Người được đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại; (d) Căn cứ khác theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc luật khác có liên quan. Hậu quả pháp lý để lại sau khi chấm dứt đại diện được quy định tại Khoản 1 Điều 90 BLTTDS: “Trường hợp chấm dứt đại diện theo pháp luật mà người được đại diện đã thành niên hoặc đã khôi phục năng lực hành vi dân sự thì người đó tự mình tham gia tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng dân sự theo thủ tục của Bộ luật này quy định.”
Thứ sáu, về quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự: Người đại diện tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích cho đương sự là những người không có năng lực hàng vi tố tụng dân sự. Do bản thân đương sự không thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng nên người đại diện trong trường hợp này sẽ thực hiện các quyền của đương sự, điều này được ghi nhận tại điều khoản 1 Điều 86 BLTTDS 2015 “ Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự trong phạm vi mà mình đại diện”. So với quy định tại khoản 1 Điều 74 BLTTDS trước đó (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) về quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật được quy định như sau: “Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự mà mình là đại diện” thì BLTTDS 2015 có sự quy định rõ ràng về phạm vi quyền và nghĩa vụ của người đại diện. Mọi trường hợp người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật đều phải xuất phát từ lợi ích của đương sự mà họ đại diện. Về bản chất, các quyền tố tụng này là quyền của đương sự, người đại diện chỉ thay mặt các đương sự thực hiện vì lợi ích của đương sự mà thôi. Theo đó, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự thực hiện theo quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự “trong phạm vi” mà mình đại diện. Với quy định mới này rất phù hợp, góp phần hạn chế sự lạm dụng quyền của người đại diện trong tố tụng dân sự. Tuy nhiên, người đại diện trong từng trường hợp cụ thể lại có quyền và nghĩa vụ nhất định.
2.3. Người đại diện của đương sự theo ủy quyền
Thứ nhất, về khái niệm: Người đại diện theo ủy quyền là người đại diện theo sự ủy quyền của đương sự, tham gia tố tụng dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
Thứ hai, về căn cứ xác lập quyền đại diện: Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện.
Thứ ba, về phạm vi đại diện: Khác với đại diện theo pháp luật, đương sự được đại diện là người có năng lực hành vi tố tụng nên người đại diện theo ủy quyền chỉ được tham gia tố tụng khi được đương sự ủy quyền thay mặt họ trong tố tụng dân sự. Đương sự có thể ủy quyền cho bất kì người nào có năng lực hành vi tố tụng đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích của mình, trừ những người được quy định tại Điều 87 BLTTDS 2015.
Bên cạnh đó, người đại diện thực hiện hành vi nhân danh người được đại diện. Do đó, cần phải có một giới hạn nhất định cho hành vi đó, giới hạn này cũng là phạm vi thẩm quyền đại diện. Phạm vi thẩm quyền của người đại diện theo ủy quyền được xác định trong chính văn bản ủy quyền. Người đại diện theo uỷ quyền chỉ được thục hiện hành vi pháp lý trong khuôn khổ văn bản uỷ quyền quy đinh. Việc xác lập văn bản uỷ quyền và giải quyết các tranh chấp phát sinh phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật vể hợp đổng uỷ quyển. Đồng thời, căn cứ theo Khoản 4 Điều 85 BL TTDS 2015: “Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì họ là người đại diện”. Từ đó ta có thể thấy rằng, đương sự có thể ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng trong các loại việc trừ việc ly hôn.
Thứ tư, về thời hạn đại diện: Thời hạn đại diện được xác định theo văn bản ủy quyền.
Thứ năm, về các trường hợp đại diện theo ủy quyền chấm dứt đại diện: Căn cứ Điều 89 BLTTDS 2015 và khoản 3 Điều 140 Bộ luật dân sự 2015, đại diện theo ủy quyền chấm dứt trong trường hợp sau đây: (a) Theo thỏa thuận;(b) Thời hạn ủy quyền đã hết; (c) Công việc được ủy quyền đã hoàn thành; (d) Người được đại diện hoặc người đại diện đơn phương chấm dứt thực hiện việc ủy quyền; (đ) Người được đại diện, người đại diện là cá nhân chết; người được đại diện, người đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại; (e) Người đại diện không còn đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 134 của Bộ luật này; (g) Căn cứ khác làm cho việc đại diện không thể thực hiện được. Hậu quả pháp lý để lại sau khi chấm dứt đại diện được quy định tại Khoản 2 Điều 90 BLTTDS: “Trường hợp chấm dứt đại diện theo ủy quyền thì đương sự hoặc người thừa kế của đương sự trực tiếp tham gia tố tụng hoặc ủy quyền cho người khác đại diện tham gia tố tụng theo thủ tục do Bộ luật này quy định.”
Thứ sáu, về quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo ủy quyền của đương sự: Căn cứ để có thể xác định được quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo ủy quyền đó là Khoản 2 điều 86 BLTTDS 2015:“ Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền”. Theo đó trong từng trường hợp cụ thể, phải dựa trên nội dung văn bản ủy quyền mới xác định được quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo ủy quyền.
2.4. Người đại diện của đương sự do Tòa án chỉ định
Người đại diện do Tòa án chỉ định là người đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự theo sự chỉ định của Tòa án. Đối với người đại diện do tòa án chỉ định thì đây là một trường hợp đặc biệt, bởi theo Khoản 2 Điều 85 BLLTDS 2015 thì người đại diện theo pháp luật được quy định trong Bộ luật dân sự là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự, mà Bộ luật dân sự 2015 lại quy định người đại diện theo pháp luật bao gồm cả người được tòa án chỉ định. Vì thế, so với người đại diện theo pháp luật, người đại diện do tòa án chỉ định cũng có một số điểm tương đồng, song vẫn có những điểm cần cần lưu ý về người đại diện do tòa chỉ định.
Việc tòa án chỉ định người đại diện cho đương sự bảo đảm quyền bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của đương sự trước tòa án. Tuy vậy, theo quy định tại Điều 88 BLTTDS 2015 thì Tòa án phải chỉ định người đại diện cho đương sự trong trường hợp khi tiến hành tố tụng dân sự để tham gia tố tụng, nếu đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 87 của BLTTDS 2015; hoặc, đối với vụ việc lao động mà có đương sự thuộc trường hợp trên hay người lao động là người chưa thành niên mà không có người đại diện và tòa án cũng không chỉ định được theo quy định của Khoản 1 Điều 88 thì Tòa sẽ chỉ định tổ chức đại diện tập thể lao động đại diện cho người lao động đó. Bên cạnh đó, để thực hiện được bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự thì đối với những người thuộc diện không được làm người đại diện theo pháp luật của đương sự, tòa cũng không được chỉ định họ làm đại diện cho đương sự.
Người đại diện do tòa chỉ định tham gia tố tụng từ khi có quyết định của tòa án chỉ định họ làm đại diện cho đương sự và phạm vi tham gia tố tụng của người đại diện do tòa án chỉ định không bị hạn chế trong loại việc
3. Đánh giá các quy định và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành
3.1 Đánh giá
Hiện nay, BLTTDS 2015 đã giải quyết một số vấn đề tồn tại từ bộ luật tố tụng dân sự 2004 như quy định về đại diện cho đương sự của pháp nhân, quy định về các trường hợp mà tòa chỉ định người đại diện... Tuy nhiên, trên thực tế, việc thực hiện các quy định của pháp luật về người đại diện cho đương sự vẫn còn nhiều những vướng mắc, một số vấn đề cụ thể như sau:
Một, lúng túng trong việc xác định tư cách đại diện của một số đối tượng đặc biệt. Ví dụ như là chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp, khi phát sinh những tranh chấp trong phạm vi quyền hạn do doanh nghiệp quy định cho chi nhánh/văn phòng đại diện thì sẽ do doanh nghiệp chịu trách nhiệm trực tiếp mà không phải là văn phòng đại diện/chi nhánh. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử thì vẫn có một số tòa mắc sai lầm khi xác định chi nhánh/văn phòng đại diện là đương sự trong các vụ việc phát sinh từ hành vi thực hiện chức năng đại diện của chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp.
Hai, chưa thống nhất có hay không phải công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền trong tố tụng dân sự. Trên thực tế, các tòa vẫn thường chấp nhận các văn bản ủy quyền trong tố tụng dân sự không có công chứng, chứng thực, song, vẫn có tòa án yêu cầu công chứng, cứng thực mới chấp nhận, nên điều này gây ra không ít lúng túng cho người dân khi tham gia tố tụng có mong muốn sử dụng chế định người đại diện theo ủy quyền.
Ba, khó khăn trong việc việc xác định quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo ủy quyền. Sự không rõ ràng trong thỏa thuận nội dung đại diện, phạm vi đại diện gây lúng túng cho tòa án khi không thể nhận thức một cách chính xác nội dung, phạm vi đại diện mà đương sự và người đại diện đã thỏa thuận.
Bốn, liên quan đến trường hợp cha, mẹ người thân thích khác yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn chưa quy định cụ thể là đại diện theo ủy quyền hay đại diện theo pháp luật. Điều này gây khó khăn cho chính người được đại diện vì nếu là đại diện theo ủy quyền họ phải lập văn bản ủy quyền cho người đại diện, còn nếu là được quy định là đại diện theo pháp luật thì họ không cần thực hiện thủ tục đó.
3.2 Một số kiến nghị
Từ những phân tích, đánh giá trên, nhóm xin đề xuất một số kiến nghị sau:
Thứ nhất, cần có những hướng dẫn cụ thể và nâng cao công tác đào tạo, bồi dưỡng năng lực của thẩm phán trong hành nghề, cụ thể đối với vấn đề xác định đương sự và người đại diện của đương sự, thẩm phán cần phải phân biệt rõ ràng giữa người đại diện và người được đại diện trong tố tụng dân sự.
Thứ hai, cần có quy định cụ thể về hình thức của quan hệ ủy quyền đại diện và những nội dung cơ bản cần thỏa thuận trong giao dịch ủy quyền liên quan đến tố tụng dân sự. Về hình thức, cần quy định rõ việc phải công chứng chứng thực văn bản ủy quyền để đảm bảo sự rõ ràng minh bạch, thuận lợi cho việc thực hiện quan hệ đại diện theo ủy quyền cũng như có căn cứ rõ ràng khi muốn truy cứu trách nhiệm phát sinh từ hành vi của người đại diện trong quan hệ ủy quyền. Về nội dung, cần có quy định về những nội dung chủ yếu bắt buộc như thời hạn và phạm vi ủy quyền để giúp tòa án nắm bắt được giới hạn, qua đó tiến hành tố tụng một cách phù hợp.
Thứ ba, cần bổ sung các quy định về quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự tham gia tố tụng dân sự, trên cơ sở đó, xác định quyền và nghĩa vụ tố tụng cho người đại diện của đương sự trong việc dân sự. quy định hướng dẫn về cơ chế giám sát thực hiện các quyền của đương sự trong đó có quyền của người đại diện cho đương sự
Thứ tư, thực hiện tốt hơn nữa công tác giáo duc, tuyên truyền và phổ biến pháp luật, đặc biệt là trong công tác giải thích quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng của người dân để họ hiểu và thực hiện đúng, đủ cũng như đảm bảo quyền lợi của mình và giúp quá trình tố tụng diễn ra hiệu quả nhất.