1. Quy định về thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam

Theo Công văn 4357/TCHQ-GSQL ngày 17/10/2022 của Tổng cục Hải quan, quy định về thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam được đưa ra như sau:

Định nghĩa thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam:

Theo khoản 5 Điều 3 Luật Quản lý ngoại thương 2017, thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam được định nghĩa như sau:

- Không có hoạt động đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam theo các hình thức được quy định trong pháp luật về đầu tư, thương mại, doanh nghiệp.

- Không có văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về thương mại, doanh nghiệp.

Thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) tại chỗ của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam

Thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ theo quy định tại Điều 35 Nghị định 08/2015/NĐ-CP bao gồm:

- Hàng hóa đặt gia công tại Việt Nam và được tổ chức, cá nhân nước ngoài đặt gia công bán cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam.

- Hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp trong khu phi thuế quan.

- Hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp Việt Nam với tổ chức, cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam và được thương nhân nước ngoài chỉ định giao, nhận hàng hóa với doanh nghiệp khác tại Việt Nam.

Thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ:

Thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ, theo quy định tại Điều 86 Thông tư 38/2015/TT-BTC (sửa đổi bởi Thông tư 39/2018/TT-BTC), được xác định như sau:

Trách nhiệm của người xuất khẩu:

- Khai thông tin tờ khai hải quan xuất khẩu và khai vận chuyển kết hợp, trong đó ghi rõ vào ô “Điểm đích cho vận chuyển bảo thuế” là mã địa điểm của Chi cục Hải quan làm thủ tục hải quan nhập khẩu.

- Thực hiện thủ tục xuất khẩu hàng hóa theo quy định.

- Thông báo việc đã hoàn thành thủ tục hải quan xuất khẩu để người nhập khẩu thực hiện thủ tục nhập khẩu và giao hàng hóa cho người nhập khẩu.

- Tiếp nhận thông tin tờ khai nhập khẩu tại chỗ đã hoàn thành thủ tục hải quan từ người nhập khẩu tại chỗ để thực hiện các thủ tục tiếp theo.

Trách nhiệm của người nhập khẩu:

- Khai thông tin tờ khai hải quan nhập khẩu theo đúng thời hạn quy định.

- Thực hiện thủ tục nhập khẩu hàng hóa theo quy định.

- Ngay sau khi hoàn thành thủ tục nhập khẩu tại chỗ thì thông báo việc đã hoàn thành thủ tục cho người xuất khẩu tại chỗ để thực hiện các thủ tục tiếp theo.

- Chỉ được đưa hàng hóa vào sản xuất, tiêu thụ sau khi hàng hóa nhập khẩu đã được thông quan.

Trách nhiệm của cơ quan hải quan nơi làm thủ tục xuất khẩu:

- Thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu theo quy định.

- Theo dõi những tờ khai hải quan xuất khẩu tại chỗ đã hoàn thành thủ tục hải quan nhưng chưa thực hiện thủ tục nhập khẩu tại chỗ và thông báo cho Chi cục Hải quan nơi dự kiến làm thủ tục nhập khẩu để quản lý, theo dõi, đôn đốc người nhập khẩu tại chỗ thực hiện thủ tục hải quan.

Trách nhiệm của cơ quan hải quan nơi làm thủ tục nhập khẩu:

- Tiếp nhận, kiểm tra theo kết quả phân luồng của Hệ thống. Trường hợp phải kiểm tra thực tế hàng hóa, nếu hàng hóa đã được kiểm tra thực tế tại Chi cục Hải quan xuất khẩu thì Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục nhập khẩu không phải kiểm tra thực tế hàng hóa.

- Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ theo chỉ định của thương nhân nước ngoài thì hàng tháng tổng hợp và lập danh sách các tờ khai hải quan nhập khẩu tại chỗ đã được thông quan theo mẫu số 01/TB-XNKTC/GSQL Phụ lục V ban hành kèm Thông tư 39/2018/TT-BTC gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp tổ chức, cá nhân nhập khẩu tại chỗ.

- Phối hợp với Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục xuất khẩu để đôn đốc người nhập khẩu tại chỗ hoàn thành thủ tục hải quan.

Trách nhiệm của người khai hải quan:

Căn cứ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 18 Luật Hải quan năm 2014, người khai hải quan chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự xác thực của nội dung đã khai và các chứng từ đã nộp, xuất trình. Do vậy, doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại chỗ (người khai hải quan) phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc xác định thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam.

2. Quyền xuất khẩu đối với thương nhân nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam ra sao?

Theo quy định tại Điều 2 của Thông tư 28/2012/TT-BCT về việc thực hiện quyền xuất khẩu, các thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam, được gọi tắt là thương nhân không hiện diện, sẽ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu và quyền nhập khẩu để thực hiện quyền xuất khẩu dưới các điều kiện sau đây:

- Xuất khẩu hàng hóa không hạn chế: Thương nhân không hiện diện có quyền xuất khẩu các mặt hàng, trừ các mặt hàng thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, danh mục hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, và danh mục hàng hóa không được quyền xuất khẩu theo cam kết quốc tế. Đối với các loại hàng hóa có điều kiện đặc biệt, thương nhân này phải đáp ứng các điều kiện được quy định bởi pháp luật.

- Xuất khẩu theo lộ trình cam kết: Thương nhân không hiện diện cũng có thể xuất khẩu hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa xuất khẩu theo lộ trình trong các cam kết quốc tế. Trong trường hợp này, họ phải tuân thủ lộ trình cam kết đó.

- Thực hiện thủ tục xuất khẩu tại cơ quan Hải quan: Thương nhân không hiện diện có quyền trực tiếp thực hiện thủ tục xuất khẩu hàng hóa tại cơ quan Hải quan theo quy định của pháp luật. Điều này dựa trên cơ sở của hợp đồng mua hàng mà họ đã ký với thương nhân Việt Nam.

- Phù hợp với Giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu: Mặt hàng xuất khẩu phải phù hợp với nội dung của Giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu và quyền nhập khẩu mà họ đã được cấp.

- Hạn chế mua hàng hóa tại Việt Nam: Thương nhân không hiện diện chỉ được mua hàng hóa từ thương nhân Việt Nam có đăng ký kinh doanh hoặc có quyền xuất khẩu hoặc quyền phân phối hàng hóa đó để xuất khẩu. 

- Cấm tổ chức mạng lưới mua gom hàng hóa: Thương nhân không hiện diện không được tổ chức mạng lưới mua gom hàng hóa tại Việt Nam để xuất khẩu, trừ khi có quy định khác của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

3. Quyền nhập khẩu của thương nhận nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam

Theo Điều 4 của Nghị định 90/2007/NĐ-CP về quyền nhập khẩu của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam, quy định như sau:

- Thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam được phép thực hiện các quyền xuất nhập khẩu khi họ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền xuất khẩu và quyền nhập khẩu đối với các loại hàng hóa được phép xuất khẩu và nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam và theo lộ trình cam kết về mở cửa thị trường của Việt Nam. Điều này bao gồm quyền thực hiện các giao dịch xuất khẩu và nhập khẩu đối với các mặt hàng được quy định theo quyền xuất khẩu và nhập khẩu của họ trong quá trình thương mại quốc tế.

- Thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam cũng có quyền thực hiện mua hàng hóa để xuất khẩu và bán hàng hóa nhập khẩu với thương nhân Việt Nam, với điều kiện rằng thương nhân Việt Nam này đã đăng ký kinh doanh các loại hàng hóa đó theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam. Điều này đảm bảo rằng việc giao dịch thương mại giữa thương nhân nước ngoài không có hiện diện và thương nhân Việt Nam diễn ra theo quy định pháp luật và đáp ứng các yêu cầu về đăng ký kinh doanh và quản lý hàng hóa tại Việt Nam.

Xem thêm bài viết: Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài có được tuyển dụng nhân sự là người Việt Nam không ?. Khi cần tư vấn về quy định pháp luật, hãy liên hệ đến hotline 19006162 hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn