1. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là gì ?

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt (đối với loại hình phạt khác nhau) trong phạm vi luật định để áp dụng đối với chủ thể chịu trách nhiệm hình sự.

Căn cứ để quyết định hình phạt đối với người phạm tội là:

– Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

– Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ trên, Tòa án còn căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội.

Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là việc tòa án lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định đối với tội danh cụ thể, áp dụng đối với chủ thể chịu trách nhiệm hình sự.

2. Quy định về trường hợp giảm hình phạt dứoi mức tối thiểu giai đoạn trước pháp điển hóa lần thứ nhất

>> Xem thêm: Đánh bài ăn tiền bị xử phạt như thế nào theo luật hình sự năm 2021 ?

Ở giai đoạn này, văn bản đầu tiên phải kể đến là Thông tư số 2140-TT-VHH_HS năm 1955 về việc áp dụng luật lệ, khi trả lời câu hỏi đối với các tội định trong Thông tư 442, về tội hối lộ định trong Sắc lệnh 223-SL năm 1946 có thể dưới mức tối thiểu hoặc cho hưởng án treo được không, Thông tư 2140 nêu rõ: “Tùy trường hợp, có thể xuống dưới mức tối thiểu hoặc cho hưởng án treo được, nhưng nên áp dụng dè dặt điều khoan hồng này. Có xuống dưới mức tối thiểu thì cũng không nên xuống dưới 15 ngày tù”. Quy định của thông tư chưa thực sự rõ ràng nên việc áp dụng còn tùy nghi, các trường hợp áp dụng không được quy định cụ thể mà rất chung chung “tùy trường hợp”, mặc dù cho phép quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của luật nhưng theo hướng khuyến cáo chỉ áp dụng thật hạn chế “nên áp dụng dè dặt điều Khoản này”

Nhìn chung, những văn bản giai đoạn này chỉ đề cấp đến việc tòa án có quyền xử dưới khung hình phạt áp dụng nhưng căn cứ chung chung và không có giới hạn của việc giảm mức hình phạt quyết định. Tất cả việc áp dụng trong trường hợp này đều xuất phát từ nhận thức và kinh nghiệm của tòa án để thực hiện.

3.Bất cập trong việc áp dụng quy định về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt

>> Xem thêm: Mức xử phạt hành chính đối với hành vi đánh bạc ?

Quy định về chế định quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là quy định cụ thể nguyên tắc nhân đạo trong BLHS. Tuy nhiên, trong thực tế áp dụng vẫn còn gặp một số vấn đề vướng mắc, bất cập.Một trong những chức năng quan trọng nhất của luật hình sự là chống và phòng ngừa tội phạm. Người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, trong quá trình quyết định quyết định hình phạt ngoài vấn đề quan trọng nhất là phải đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì cũng cần xem xét những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ để cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo và để đảm bảo nguyên tắc nhân đạo.

Tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015 (BLHS 2015) quy định: “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.”

Theo quy định trên, thì Toà án chỉ có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung nhẹ hơn liền kề trước hoặc liền sau đó của điều luật, nếu có ít nhất là hai tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS 2015. Tức là trong số các tình tiết giảm nhẹ được vận dụng thì ít nhất phải có hai tình tiết được luật quy định, đồng thời giới hạn hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt phải trong phạm vi của khung hình phạt nhẹ hơn liền trước hay liền sau của khung đó. Trên thực tế, khi áp dụng điều luật lại gặp những vướng mắc tạo ra sự tùy nghi và không thông nhất trong cách áp dụng pháp luật.

Ví dụ: Nguyễn Văn A (30 tuổi) phạm tội đưa hối lộ và bị Tòa án xét xử theo khoản 2 Điều 364 BLHS 2015. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhận thấy A có 2 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 và quyết định áp dụng Điều 54 để quyết định hình phạt đối với A. Điều 364 quy định:

Người nào trực tiếp hay qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích nào sau đây để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; b) Lợi ích phi vật chất.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm…

>> Xem thêm: Năm 2021, Đánh bạc bao nhiêu tiền thì phải chịu trách nhiệm hình sự ?

Phạm tội trong trường hợp của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

Phạm tội trong trường hợp của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng…

Như vậy, nếu áp dụng Điều 54 thì A sẽ được áp dụng khung hình phạt theo khoản 1 Điều 364 BLHS 2015. Từ việc bị xét xử theo khoản 2 chỉ có một khung hình phạt đó là phạt tù trong khung từ 02 năm đến 07 năm, sau khi áp dụng khoản 1 Điều 54 Tòa án có thể sẽ quyết định hình phạt với A bằng hình phạt tù có thời hạn với khung hình phạt tù là 06 tháng đến 03 năm; phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng. Như vậy, phạm vi lựa chọn để áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật là rất rộng (vì Điều 54 không quy định việc áp dụng hình phạt trong khung liền kề nhẹ hơn phải là hình phạt cùng loại) và chưa có văn bản quy định chi tiết về vấn đề này nên dẫn tới sự tùy tiện áp dụng và không thống nhất ở các Tòa án.

Bên cạnh đó, việc áp dụng quy định về quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định của một số điều luật chưa chắc đã là có lợi hơn cho bị cáo. Ví dụ đối với trường hợp sau:

M có hành vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người và bị Tòa án xét xử theo khoản 1 Điều 295 BLHS 2015. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhận thấy M có 2 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 BLHS 2015, nên Tòa án đã áp dụng khoản 1 Điều 54 để quyết định hình phạt đối với M. Trong trường hợp này, Tòa án sẽ quyết định cho M được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 295 BLHS nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của Điều 295.

Theo quy định của Điều 295 thì:

“1. Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm…

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm…

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 12 năm…

Theo quy định tại Điều 295 BLHS, có thể thấy khung hình phạt nhẹ hơn liền kề với khung hình phạt được quy định tại khoản 1 là khung hình phạt tại khoản 4 “… cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”. Như vậy, nếu Tòa án quyết định hình phạt cho M theo khoản 1 sẽ là phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Nếu như, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tại khoản 1 sẽ là phạt tiền dưới 20 triệu đồng hoặc sẽ chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn là cảnh cáo. Tuy nhiên, mức hình phạt quy định tại khoản 4 là phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Điều này sẽ dẫn đến bất lợi cho M ở chỗ M chỉ được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung trong trường hợp hợp hình phạt của M phải là hình phạt tù có thời hạn hoặc cải tạo không giam giữ. Trong trường hợp này lại không đạt được nguyên tắc nhân đạo mà điều luật muốn hướng đến.

>> Xem thêm: Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

4.Một số giải pháp về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt

Thứ nhất, để tránh trường hợp khi chuyển sang khung hình phạt khác liền kề nhẹ hơn, phạm vi lựa chọn để áp dụng hình phạt quá rộng và không thống nhất, dẫn tới khi quyết định hình phạt đối với bị cáo lại không tưng xứng với tính chất và hành vi phạm tội. Theo tác giả, nên quy định khoản 1 Điều 54 theo hướng “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật và hình phạt được áp dụng phải cùng loại với hình phạt trong khung hình phạt mà người phạm tội bị xét xử khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này” và cần có văn bản quy định chi tiết điều này để áp dụng thống nhất.

Thứ hai, cần bổ sung thêm hình phạt tiền vào khung hình phạt nhẹ nhất ở một số tội danh để mức tối thiểu của khung phải bằng hoặc thấp hơn mức ở khung có cấu thành cơ bản của điều luật. Như vậy, khi áp dụng Điều 54 đối với một số tội danh như tội danh được quy định tại Điều 295 mới đạt hiệu quả tối đa.

>> Xem thêm: Đương sự là gì ? Người tham gia tố tụng dân sự là gì ?

5.Quy định của pháp luật

- Quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật đã quy định, tức là áp dụng hình phạt đó với mức thấp hơn mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định đối với tội phạm bị xét xử.

+ Để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật quy định, Điều 54 đòi hỏi phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS và phải ở khung liền kề nhẹ hơn của điều luật.

+ Tòa án cũng chỉ giảm nhẹ đến mức thấp nhất mà luật quy định cho loại hình phạt đó trong hệ thống hình phạt.

>> Xem thêm: Cản trở hoạt động tố tụng dân sự là gì ? Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng như thế nào ?

- Chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, nghĩa là thay thế loại hình phạt được quy định trong điều luật về tội phạm bị xét xử bằng một loại hình phạt khác nhẹ hơn không được quy định trong điều luật.

Trong TH phạm tội có nhiều tiết tình giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 BLHS thì việc chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn chỉ được áp dụng trong TH điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Không tố giác tội phạm là gì trong bộ luật hình sự 2015 ?

Trả lời:

1. Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

3. Người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà người bào chữa biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

Câu hỏi: Sự kiện bất ngờ là gì ?

Trả lời:

Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Câu hỏi: Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội trong bộ luật hình sự 2015 được quy định thế nào ?

Trả lời:

1. Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.

2. Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.